Hình ảnh

Hình ảnh

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

Nữ sĩ thời Lê: Đoàn Thị Điểm

1. Tiểu sử:
Đoàn Thị Điểm [1] (1705-1748), hiệu: Hồng Hà Nữ Sĩ; là nữ sĩ Việt Nam thời Lê.
Bà là người làng Giai Phạm [2], huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên).

Theo gia phả họ Đoàn là “Đoàn thị thực lục”, thì tổ tiên của bà vốn họ Lê, đến đời cha bà là Đoàn Doãn Nghi (1678-1729), mới đổi ra họ Đoàn. Ông Doãn Nghi thi đỗ Hương cống (Cử nhân) đời Lê, thi Hội không đỗ, nên ở dạy học và bốc thuốc. Ông cưới vợ (họ Vũ, không rõ tên), sinh được hai con: con cả là Đoàn Doãn Luân (1700 - ?) [3] và con thứ là Đoàn Thị Điểm.

Lúc trẻ, bà có tiếng thông minh, đẹp người, đẹp nết, chăm học, có tài văn và giỏi cả việc nữ công. Cho nên năm 16 tuổi, bà được Thượng thư Lê Anh Tuấn nhận làm con nuôi để sau dâng lên chúa Trịnh, nhưng bà không chịu.
Suốt thời gian từ lúc ấu thơ đến tuổi trưởng thành, bà thường sống với cha và anh ở nơi cha dạy học là làng Lạc Viên (huyện An Dương, tỉnh Kiến An; nay thuộc thành phố Hải Phòng).

Năm bà 25 tuổi (1729), cha mất, bà cùng với gia đình của anh dời đến ngụ ở làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (nay là huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).
Chẳng bao lâu sau anh mất (không rõ năm), bỏ lại một đàn con nhỏ, một mình Đoàn Thị Điểm phải vừa làm thuốc, vừa dạy học để có tiền nuôi mẹ và giúp đỡ chị dâu nuôi các cháu.

Theo Từ điển nhân vật lịch Việt Nam, khi ấy ở Sài Trang thuộc huyện Đường Hào có một người con gái được tiến cung, và bà đã được vời vào cung làm Giáo thụ để dạy người con gái ấy. Đến năm 1739, nhân trong nước có loạn, bà xin từ chức về ngụ ở xã Chương Dương (nay thuộc Thường Tín, ngoại thành Hà Nội) tiếp tục làm nghề dạy học.

Bấy giờ, có nhiều đến hỏi, trong đó có cả những người quyền quý, nhưng bà đều từ chối. Mãi đến năm 37 tuổi (1742), bà mới nhận lời lấy Nguyễn Kiều (1695?-1792?), một Tiến sĩ nổi tiếng hay chữ đã góa vợ. Nhưng vừa cưới xong, Nguyễn Kiều lại phải đi sứ sang Trung Quốc ba năm. Theo Từ điển văn học (bộ mới), có lẽ trong thời gian xa chồng này bà đã dịch ra quốc âm tập thơ Chinh phụ ngâm của danh sĩ Đặng Trần Côn.

Năm 1745, Nguyễn Kiều về nước. Năm 1748, ông được cử làm Tham thị (có sách ghi làm làm "Đốc đồng") trấn Nghệ An. Đoàn Thị Điểm cùng đi với chồng, nhưng trên đường đi, bà bị cảm nặng, chạy chữa không khỏi, cuối cùng mất ở Nghệ An vào ngày 11 tháng 9 (âm lịch) năm đó (Mậu Thìn, 1748), lúc 43 tuổi.

Thương cảm người bạn đời vắn số, Nguyễn Kiều viết bài văn tế, hết lời ca tụng văn tài và đức hạnh của bà. Trong đó có câu:
Đào chưa tươi đã khô
Quế đang thơm đã rũ
Rừng sâu bể rộng nàng hỡi đi đâu
Ngọc nát châu chìm lòng tôi quặn nhớ
...

2. Sự nghiệp văn chương:
Theo Đoàn thị thực lục, lúc sinh thời bà thường xướng họa thơ với cha, với anh và với chồng. Song cho đến nay, về sáng tác, bà chỉ còn có tập truyện chữ Hán tên là Truyền kỳ tân phả (khắc in lần đầu năm Tân Mùi, 1811), và một ít thơ văn (gồm chữ Hán, chữ Nôm) trong tập Hồng Hà phu nhân di văn mới được phát hiện gần đây, nhưng trong đó có không ít sai lẫn .
Về bản dịch Chinh phụ ngâm (Chinh phụ ngâm khúc diễn âm) của bà, hiện nay vẫn chưa khẳng định là bản nào. Nhiều người cho đó là bản đang lưu hành rộng rãi, nhưng có ý kiến nói bản đó là của Phan Huy Ích[14], còn bản của nữ sĩ họ Đoàn là một bản khác. Song theo GS. Nguyễn Lộc, thì "một điều có thể khẳng định được là bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm là bản dịch đầu tiên của tác phẩm này"[4].

3. Giai thoại:
Có lần Đoàn Doãn Luân thấy Đoàn Thị Điểm đang ngồi soi gương, bèn ra một vế rằng:
Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm (nghĩa là “soi gương vẽ mày, một nét hóa thành hai nét”; song chữ điểm còn là tên bà Điểm, thành ra lại có nghĩa nữa là “một bà Điểm hóa hai bà Điểm”).
Lúc ấy, ông Luân đang ngồi trên cầu ao rửa tay, bà liền đối rằng:
Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân (nghĩa là “ra ao ngắm trăng, một vầng chuyển hóa hai vầng; song chữ luân còn là tên của ông Luân, thành ra lại có nghĩa nữa là “một ông Luân hóa hai ông Luân) [5]
Ngoài ra, trong dân gian còn truyền tụng một số chuyện như “Da trắng vỗ bì bạch" (ra vế đối cho Cống Quỳnh đối lại), "Hổ thật thành hổ giấy" (ra vế đối cho "Tràng An tứ hổ" đối lại), "Trượng phu Bắc quốc đều từ đó mà ra" (đáp lại câu đối của sứ thần Trung Quốc), v.v...

Chú thích:
[1] Vì Đoàn Thị Điểm lấy chồng họ Nguyễn, nên có sách chép là Nguyễn Thị Điểm (chú thích của GS. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968, tr. 303). Theo Thái Vũ (tr. 72) thì bà còn có biệt hiệu là Bang Tang (tức tự ví như nữ sĩ Ban Chiêu thời Đông Hán, Trung Quốc).
[2] Theo nhà văn Trúc Khê, làng vốn có tên là "Hiến Phạm", sau vì kiêng chữ "hiến" là miếu hiệu của vua Thiệu Trị (Hiến Tổ) nên mới đổi ra là "Khải Phạm", song người ta cứ gọi lầm là "Giai Phạm" (tr. 526).
[3] Đoàn Doãn Luân có sách chép là Đoàn Doãn Luân, hoặc Nguyễn Trác Luân; đỗ đầu thi Hương (theo GS. Thanh Lãng [tr. 512]. Thái Vũ ghi ông đỗ đầu xứ [tr. 72]. Từ điển nhân vật lịch Việt Nam [tr. 173] ghi ông đỗ Hoàng giáp năm 1719 lúc 19 tuổi, có lẽ là nhầm. Mặc dù đỗ cao, nhưng ông không ra làm quan chỉ ở nhà dạy học. Năm 1729, cha ông mất, ít lâu sau ông cũng lâm bệnh mất..
[4] Theo những tài liệu mới phát hiện gần đây, có xu hướng nghiên về Phan Huy Ích (Nguyễn Lộc, Từ điển văn học, bộ mới, tr. 260).
[5] Kể theo Trúc Khê.

Sách tham khảo:
-Nhiều người soạn, Từ điển bách khoa Việt Nam (Tập I), mục từ Đoàn Thị Điểm”. Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1995.
-Trần Văn Giáp, tiểu truyện “Đoàn Thị Điểm” in trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2003.
-Nguyễn Lộc, mục từ Đoàn Thị Điểm và “Chinh phụ ngâm” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá thế, Từ điển nhân vật lịch Việt Nam, mục từ “Đoàn Thị Điểm” và “Đoàn Doãn Luân”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.
-Nguyễn Thạch Giang, Văn học thế kỷ XVIII, mục “Đoàn Thị Điểm”. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2004.
-Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (Quyển I, mục từ "Đoàn Thị Điểm"), Sài Gòn, 1966.
-Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển 2, mục "Đoàn Thị Điểm"). Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1963.
-Thanh Lãng, Bản lược đồ văn học Việt Nam (Quyển Thượng). Nhà xuất bản Trình Bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
-Trúc Khê, truyện “Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm” trong Tuyển tập Trúc Khê Ngô Văn Triện. Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2003.
-Thái Vũ, truyện “Đoàn Thị Điểm” trong Chuyện hay nhớ mãi. Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1987.

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Giới thiệu bộ tiểu thuyết Kim Bình Mai



Kim Bình Mai (金瓶梅),tên đầy đủ là Kim Bình Mai từ thoại (Truyện kể có xen thi từ về Kim Bình Mai);là bộ tiểu thuyết dài gồm 100 hồi [1] của Trung Quốc.

Đây là "bộ truyện dài đầu tiên do mà cốt truyện hoàntoàn là hư cấu sáng tạo của một cá nhân". Trước đó, các truyện kể đều dựaít nhiều ít nhiều vào sử sách hoặc truyện kể dân gian, và đều là sự chắp nốicông công sức của nhiều người.
Tên truyện do tên ba nhân vật nữ là Phan KimLiên, Lý Bình Nhi và Bàng Xuân Mai mà thành.
Theo một số nhà nghiên cứu văn học, thì tác giả là một ngườiở Sơn Đông không rõ họ tên, có bút hiệu là Tiếu Tiếu Sinh (có nghĩa là"Ông thầy cười") [2].

Có thể nói trong các tiểu thuyết viết về "nhân tình thế thái" (nói gọn là "thế tình", tức "tình đời") ở TrungQuốc, thì đây là truyện có tiếng nhất, đã khiến cho nhiều người bàn luận.

1. Vài nét về bộ truyện:
Theo bài tựa của Hân Hân Tử ở trong sách “Kim Bình Mai từ thoại”, thì tác giả là Lan Lăng Tiếu Tiếu sinh (có nghĩa là “Ông thầy cười” ở Lan Lăng) hay nói gọn là Tiếu Tiếu Sinh. Song đây chỉ là bút hiệu, còn tên thật của tác giả là gì thì có nhiều lời đồn đoán, như đó có thể là Hân Hân Tử, là Vương Thế Trinh, hoặc là: Lý Khai Tiên, Triệu Nam Tinh, Tiết Ứng Kỳ,...nhưng tất cả đều không đủ chứng cứ để chắc chắn.
Vì vậy, trong cuốn Vạn Lịch dã hoạch biên, Thẩm Đức Phù chỉnói tác giả là một “đại danh sĩ” thời Gia Tĩnh (niên hiệu vua Minh Thế Tông từ1522 đến 1566). Ý kiến này có thể xác đáng, vì thời gian sáng tác và thời giansống của tác giả khá ăn khớp nhau.
Tuy chưa thể quả quyết, nhưng qua tác phẩm có thể thấy, tácgiả dùng tiếng địa phương Sơn Đông rất thành thạo, và Lan Lăng chính là tên cũcủa huyện Dịch thuộc tỉnh Sơn Đông; vậy rất có thể tác giả là người Sơn Đông,và từng sống ở Bắc Kinh, vì trong tác phẩm hầu như đều lấy nơi đây làm bối cảnh. Kim Bình Mai có lẽ viết xong vào khoảng từ năm Long Khánh thứ2 (niên hiệu của vua Minh Mục Tông) đến năm Vạn Lịch thứ 30 (niên hiệu của vuaMinh Thần Tông), tức từ 1568 đến 1602, nhưng phải 8 năm sau (1610) tác phẩm mớiđược khắc in, vì bị ghép vào loại "dâm thư".
Theo nhà văn Lỗ Tấn, ban đầu chỉ có bản chép tay. Sau, Viên Hoằng Đạo có thấy được vài hồi, bèn đem ghép với Thủy Hử truyện, và gọi là Ngoạiđiển. Đến năm 1610, tác phẩm mới được khắc in ở Ngộ Trung. Nhưng vì hồi 53 đếnhồi 57 đã khuyết mất, nên có người (không rõ là ai) đã phải viết bổ sung . Những bản Kim Bình Mai hiện còn chia làm hai loại:
-Một là Kim Bình Mai từ thoại. Đầu quyển có bài tựa của LongChâu Khánh, là người đất Đông Ngô, viết năm Vạn Lịch thứ 15 (1617) đời nhàMinh.
-Hai là Nguyên bản Kim Bình Mai, viết vào khoảng những nămThiên Khải đời nhà Minh (Niên hiệu của Minh Hy Tông, từ 1621 đến 1257). Sự khác nhau chủ yếu của chúng thể hiện ở chỗ nửa đầu của hồithứ nhất, hồi thứ 53 và hồi thứ 54 là hoàn toàn khác nhau về lối hành văn, thídụ như ở loại 1 phần lớn là từ, thì ở loại 2 phần lớn lại là thơ....

2. Nội dung sơ lược:
Tác phẩm Kim Bình Mai vốn được phát triển từ một số tình tiết trong tác phẩm Thủy Hử (từ hồi 23 đến hồi 26) của Thi Nại Am.
Nội dung truyện chủ yếu mô tả cuộc đời nhiều tội ác và trụy lạc của nhân vật Tây Môn Khánh, hiệu: Tứ Truyền, là người Thanh Hà, vốn là chủmột hiệu thuốc nhưng không ưa đọc sách, chỉ giỏi chơi bời phóng đãng, lại kết bạnvới một bọn du côn đàng điếm.
Ông này đã có một vợ chính và ba người thiếp, nhưng thấy Phan Kim Liên có nhan sắc, ông liền lập mưu giết chết chồng nàng là Võ Đại(trong Thủy Hử truyện ghi là Võ Đại Lang), rồi cưới nàng làm thiếp. Võ Tòng (emtrai Võ Đại) báo thù, giết lầm người khác nên Tây Môn Khánh vẫn không can gì...
Sau đó, Tây Môn Khánh còn mua Lý Bình Nhi về làm vợ lẽ, và gian dâm vớingười hầu gái của Phan Kim Liên là Bàng Xuân Mai. Nhờ thông đồng với quan lại, Tây Môn Khánh trở thành một cườnghào. Rồi nhờ nhận Thái Kinh (một trọng thần) làm cha nuôi, ông được bổ làm mộtchức quan coi việc xử án trong huyện, nên tha hồ đổi trắng thay đen để ức hiếpdân lành. Có tiền, có thế, ông ta lại càng ăn chơi phóng đãng, hoang dâm vô độ,để rồi cuối cùng lâm bạo bệnh mà chết (hồi thứ 80).

Tiếp theo, Kim Liên và Xuân Mai (lúc này không còn Lý Bình Nhivì đã ốm chết ở hồi 63) lại thông dâm với con rể của Môn Khánh là Trần Kinh Tế.Việc bị phát giác, cả hai đều bị đuổi khỏi nhà. Võ Tòng tình cờ gặp Kim Liên ởnhà Vương bà bèn giết chết (hồi 87).
Phần Xuân Mai thì bán cho viên quan họ Chu(Chu Tú), được ông này yêu lại có con nên được làm vợ cả. Gặp lại Trần Kinh Tế,Xuân Mai giả gọi là em, tìm cách đưa vào nhà để thông dâm như cũ.
Thế rồi quanhọ Chu đi đánh Tống Giang có công, được thăng quan, Kinh Tế cũng được thăng làmtham mưu, vì có dự phần. Nhưng đến hồi 99, thì Kinh Tế bị đâm chết vì kết oán vớiTrương Thắng. Đến khi quân Kim tràn vào lấn cướp, Chu Tú chết trận, Xuân Maisau đó cũng chết đột ngột vì dâm dục quá độ với người con chồng là Chu Nghĩa (hồi100).

Gặp cảnh nước nhà loạn lạc, vợ cả của Tây Môn Khánh là NguyệtNương dắt đứa con trai độc nhất của họ Tây Môn là Hiếu Ca trốn chạy. Dọc đường,gặp một nhà sư cho biết Hiếu Ca chính là kiếp sau của Tây Môn Khánh, phải xuấtgia đầu Phật mới khỏi nạn. Nghe lời, Nguyệt Nương bèn gửi con vào cửa Phật, sautrở thành nhà sư Minh Ngộ.

3. Một vài đánh giá:
Trong Kim Bình Mai, hiện thực được phản ánh là bộ mặt thật củaxã hội phong kiến thời Minh, từ sau Chính Đức (1521) đến giữa Vạn Lịch(1570-1620). Tác giả muốn thông qua nhân vật điển hình là Tây Môn Khánh đểvạch trần sự xấu xa bỉ ổi của xã hội lúc bấy giờ một cách khách quan, cụ thể vàchi tiết.
Trong cuộc hội thảo quốc gia về bộ truyện này ở Trung Quốc năm 1987,đã khẳng định giá trị phê phán và hiện thực của tác phẩm và vị trí quan trọng củanó trong quá trình phát triển chủ nghĩa hiện thực. Vì thế, nó đã được phép pháthành rộng rãi và dựng thành phim. Theo Lời Tựa của một "Danh sĩ đời Minh" (và cũnglà tác giả), viết vào mùa hạ năm Gia Tĩnh thứ 37 (Mậu Ngọ, 1558) đề ở đầu bộtruyện, thì đây là một tác phẩm mà các nhân vật đều tuân theo luật “báo ứng”, cốtđể người đọc "sợ sệt mà tự răn mình, đồng thời tự di dưỡng tâm tính".
Vì thế, theo GS. Lương Duy Thứ, tác giả đã đưa người đọc đến một kết luận rằng:cuộc đời chỉ là sự minh họa cho chân lý nhà Phật "sắc không, không sắc",và rốt cuộc giải pháp cũng chỉ có thể là con đường “Minh ngộ” (có nghĩa hiểu đượcchân lý của sự giác ngộ) mà thôi. Và cũng theo giáo sư, trong lịch sử văn học Trung Quốc"phải đợi đến Kim Bình Mai mới xuất hiện một kiểu nhân vật thoát ly hẳn lịchsử, và có sự đa dạng trong tính cách, không còn ‘trắng đen minh bạch’ như trướckia.
Song, cũng vì hướng nhân vật theo luật 'quả báo', nên tính cách nhân vậtthay đổi có phần gượng ép, thí dụ như Lý Bình Nhi trước kia hung ác hiểm độc,sau lại hiền lành nhu nhược; Phan Kim Liên trước kia kín đáo để ranh ma, sau lạiđứng đắn tử tế"...[tr. 752].

Về mặt nghệ thuật, tác giả đã sáng tạo được một số nhân vậtrất điển hình (Tây Môn Khánh, Phan Kim Liên, Bàng Xuân Mai,...), đồng thời cótài làm cho các tính cách nhân vật khác nhau khá rõ. Một điểm đáng chú ý nữa,đó là người viết đã vượt qua nhiều khuyết điểm của loại chuyện chương hồi khác;có nghĩa là tác giả người “viết chuyện” chứ không phải là người “thuật chuyện”,vì thế những sự việc tiếp diễn đều do nhân vật tự bộc lộ. Riêng phần phong cáchngôn ngữ trong truyện, nhìn chung là trong sáng, dí dỏm và trau chuốt.

4. Giai thoại:
Tương truyền thân phụ của Vương Thế Trinh (một trong số ngườitừng được coi là tác giả của Kim Bình Mai), là Vương Dư bị Nghiêm Tung ám hại.Lúc bấy giờ uy thế của Nghiêm Thế Phồn (con trai độc nhất của Nghiêm Tung) rấtmạnh nên Vương Thế Trinh không làm gìđược. Biết Nghiêm Thế Phồn là người rất thích đọc truyện khiêu dâm, Vương ThếTrinh bèn viết ra bộ Kim Bình Mai rồi tìm cách đưa đến. Ở mỗi góc tờ sách đềucó tẩm thuốc độc, để khi Nghiêm Thế Phồn lấy tay thấm vào môi lật sách thì sẽ bịngộ độc mà chết… Vì thế, mới có người [3] đem câu truyện trên (được gọi là“Khổ hiếu thuyết”) đặt lên đầu bộ truyện Kim Bình Mai. Song theo Nguyễn HuyKhánh, đây chẳng qua là một câu chuyện truyền khẩu không căn cứ. Có thể vì thấychuyện dâm ô quá, sợ mất tiếng Vương Thế Trinh, nên mới bày thêm chuyện"Khổ hiếu thuyết" để biện giải cho họ Vương [tr. 181].

5. Thông tin liên quan:
Kế tục Kim Bình Mai, thời Vạn Lịch (1570-1620) lại có chuyệntên là Ngọc Kiều Lý, nghe nói cũng là do tác giả Tiếu Tiếu Sinh viết, nhưng nayđã thất truyền. Đại để, sách này cũng như sách trước (chỉ Kim Bình Mai), thảy đềuđặt ra chuyện nhân quả báo ứng. Võ Đại kiếp sau hóa làm dâm phu, Tây Môn Khánh thì làm người đàn ông si ngốc, v.v... Ngoài ra còn có Tục Kim Bình mai gồm 64 hồi, do Đinh DiệuCang, người Sơn Đông biên soạn, làm xong khoảng đầu đời Thanh...So với Kim BìnhMai, tuy cũng thuộc loại "nhân tình thế thái", nhưng nội dung cả haibộ đều kém xa.

Bùi Thụy Đào Nguyên,giới thiệu.

Chú thích:
1. Bản dịch Kim Bình Mai (không đề tên người dịch) do nhà xuấtbản Khoa học xã hội (Hà Nội) ấn hành gồm 4 quyển, tổng cộng dài trên 1.900 trang khổ 13cm x 19cm. 2. Như một số tác giả khác, ở đây Tiếu Tiếu Sinh cũng khôngcho biết tên thật, là vì ngày xưa người ta coi trọng thơ, từ, phú hơn là truyện,tiểu thuyết. 3. Theo Lỗ Tấn thì người đó là Trương Thúc Pha, người BànhThành, viết Khổ hiếu thuyết vào đời Khang Hy (tr. 232).

Sách tham khảo:
-Tiếu Tiếu sinh, Kim Bình Mai (trọn bộ 4 tập). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1989.
-Lỗ Tấn, Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc (Lương DuyTâm dịch). Nhà xuất bản Văn hóa, 1996.
-Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốcbiên soạn, Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập 3), Bản dịch do Nxb Giáo dục Việt Nam ấn hành năm1993.
-Lương Duy Thứ, mục từ "Kim Bình Mai" trong Từ điểnvăn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Nguyễn Huy Khánh, Khảo luận tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa.Nhà xuất bản Văn học, 199

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

Nguyễn Sĩ Cố

Nguyễn Sĩ Cố (? - 1312) là nhà thơ và là quan nhà Trần trong lịch sử Việt Nam.


Theo sách Địa chí Hải Dương, Nguyễn Sĩ Cố sinh khoảng giữa thế kỷ 13 tại làng Bình Lãng, huyện Đa Cẩm; nay là thôn Bình Phiên, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Song có một số sách đều ghi là "không rõ năm sinh, quê quán và thân thế của ông"[1].


Cũng không rõ Nguyễn Sĩ Cố đã đỗ đạt gì, chỉ biết ông là người nổi tiếng về học vấn uyên bác. Vì thế năm Giáp Tuất (1274), ông được vua Trần Thánh Tông cho vời vào cung trao chức Nội thị học sĩ để dạy Thái tử Trần Khâm, tức vua Trần Nhân Tông sau này.


Đến năm Bính Ngọ (1306), dưới triều Trần Anh Tông, ông được thăng chức Thiên Chương các Học sĩ, trông coi việc giảng ngũ kinh ở gác Thiên Chương, thỉnh thoảng giảng sách cho vua học. Về sau, ông được bổ làm An phủ sứ.


Theo bài thơ "Tụng giá tây chinh yết Uy Hiển Vương từ" của ông còn lưu trong sách Việt điện u linh, thì có lần ông được theo hầu giá nhà vua đi Tây chinh Ai Lao (Lào), nhưng không rõ vào năm nào, và theo hầu vị vua nào, chỉ biết khi ấy ông đang giữ chức Thị độc học sĩ.


Năm Nhâm Tý (1312), Nguyễn Sĩ Cố theo vua Trần Anh Tông đi đánh Chiêm Thành và mất ở dọc đường.


Sau có dịp đến viếng mộ ông, danh sĩ Phạm Sư Mạnh đã có bài "Quá An Phủ Nguyễn Sĩ Cố phần" (Qua mộ An Phủ Nguyễn Sĩ Cố) để tỏ lòng thương tiếc như sau:

Tiêu tiêu thiên mẫu trúc như vân

Vô hạn thương tâm An Phủ thần.

Sơn thự tích thời huề tửu địa,

Thương mang hạ mã chính tà huân.

Bản dịch:

Mây giăng ngàn dặm trúc xanh xanh,

An Phủ phần trông vướng mối tình.

Ngày chốn ngày xưa vui vẻ lắm,

Bóng khuâng xuống ngựa bóng chênh chênh.


Hiện ở quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có con đường mang tên Nguyễn Sĩ Cố.


Nguyễn Sĩ Cố có tài làm thơ phú bằng chữ Nôm, nhưng nay đã thất truyền. Trong Toàn Việt thi lục chỉ có 2 bài thơ chữ Hán là: “Tụng giá tây chinh yết Uy Hiển Vương từ” (Theo vua đi đánh phía Tây, yết đền Uy Hiển Vương)[4] và “Tụng giá tây chinh yết Tản Viên từ” (Theo vua đi đánh phía Tây, yết đền Tản Viên) [5].

Trước đây trong Tứ dân văn uyển, Nguyễn Can Mộng có đăng bài thơ "Vịnh Tần Thủy Hoàng", và ghi là của Nguyễn Sĩ Cố. Nhưng theo TS. Nguyễn Thị Hảo thì “ngôn từ và ý tứ của bài thơ lại mới mẻ, không cho phép tin đó là ngôn ngữ đời Trần” (Từ điển văn học, bộ mới), tr. 1182).


Với số lượng thơ ít ỏi như vậy, chưa đủ để hiểu phong cách cùng những đặc điểm nghệ thuật của thơ Nguyễn Sĩ Cố. Song, theo một số nhà nghiên cứu thì đây là hai bài thơ trào phúng ra đời tương đối sớm, và có thể xem ông là người đặt cơ sở cho dòng thi ca trào phúng trong lịch sử văn học viết của Việt Nam.


Thơ Nguyễn Sĩ Cố:

Cả hai bài thơ chữ Hán dưới đây đều có ý vị hài hước, trêu chọc và nghi ngờ cả thần linh. Người đời khen tác giả (Nguyễn Sĩ Cố) có tài khôi hài, ví ông với Đông Phương Sóc (154-93 tr. CN) đời nhà Hán (Trung Quốc).


1. Tụng giá tây chinh yết Uy Hiển Vương từ

Quy ngư phù ấn quải yêu gian,

Tư sự hy cầu phó tướng quan.

Bạc liệt thư sinh vô vọng xứ,

Chỉ lai từ hạ khất bình an.

Dịch nghĩa:

Phò giá vua chinh phạt phía Tây, bái yết đền thờ Uy Hiển Vương

Lưng đeo bùa ấn hình cá, hình rùa,

Việc cầu khấn này phó thác cho quan và tướng.

Kẻ học trò yếu đuối không có ước vọng gì,

Dưới đền chỉ xin khấn chữ bình an.


2. Tụng giá tây chinh yết Tản Viên từ

Sơn tự thiên cao thần nhạc linh,

Tâm hương tài khấu dĩ văn thanh.

Mỵ Nương diệc cụ uy nghi giả,

Thả vị thư sinh bảo thử hành.

Dịch nghĩa:

Phò giá vua chinh phạt phía Tây, bái yết đền thờ Tản Viên

Núi cao như trời, thần núi linh thiêng,

Một nén hương lòng vừa cúi đầu khấn đã nghe tiếng vọng.

Mỵ Nương nếu là vị thần đầy đủ uy nghi,

Thì hãy phù hộ kẻ thư sinh trong chuyến đi này.



Bùi Thụy Đào Nguyên giới thiệu

Chú thích:

[1] Từ điển văn học (bộ mới), Từ điển bách khoa Việt Nam và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam đều ghi là không rõ như trên.

[2] Theo Việt điện u linh, truyện: "Trung Dục Uy Hiển vương", tức Thần làng Bạch Hạc. Bạch Hạc ở chỗ sông Lô đổ vào sông Hồng; nay thuộc là phường Bạch Hạc thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. tỉnh Vĩnh Phú (theo Sổ tay địa danh Việt Nam. NXB Giáo dục, 2008, tr. 18). Đừng lầm với Ngã Ba Hạc ở gần đó.

[3] Tản Viên, còn gọi là Sơn Tinh, là vị thần cai quản dãy núi Ba Vì (núi Tản Viên), một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt.


Sách tham khảo:

-Nhiều người soạn, Từ điển bách khoa Việt Nam, mục từ “Nguyễn Sĩ Cố” (bản điện tử).

-Đặng Thị Hảo, mục từ "Nguyễn Sĩ Cố" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.

-Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.

-Sách Địa chí Hải Dương, bản điện tử.

-Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, Ngọc Hồ dịch. Nhà xuất bản Cửu Long, 1982.



Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Truyện Tôn Thất Hiệp


Truyện Tôn Thất Hiệp


Tôn Thất Hiệp (ảnh thờ)
Sau trận đánh nhau với quân Trịnh vào năm 1673, ông hoàng Tôn Thất Hiệp từ bỏ gia đình, quyết chí xuất gia, tuy mới 20 tuổi.

Tôn Thất Hiệp (chữ Hán: 尊室協, 1653-1675), tên thật là Nguyễn Phúc Thuần hay Nguyễn Phúc Chiểu, là con thứ tư của chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, sau vì kỵ húy nên đổi là Hiệp. Mẹ là bà phi Châu Thị Viên. Chưa biết ông sinh tại đâu, chỉ biết khi vừa trai tráng, ông được cử giữ chức Chưởng cơ tước Hiệp Đức hầu, nên còn được người đời gọi là công tử Hiệp Đức.

Sau khi đánh dẹp được nhà Mạc ở Cao Bằng (1667), tháng 6 dương lịch năm 1672, chúa Trịnh Tạc cử con là Trịnh Căn làm Nguyên súy cai quản thủy quân và Lê Thời Hiến (hay Lê Hiến) làm Thống suất bộ binh, đem 10 vạn quân (nhưng phao tin là 18 vạn hay hơn nữa) vào đánh chúa Nguyễn. Ngoài ra, chúa Trịnh Tạc còn hộ giá vua Lê Gia Tông khi ấy mới 12 tuổi, theo sau tiếp ứng. Khi nghe viên Trấn thủ Nam Bố Chính cấp báo, chúa Hiền liền họp triều thần chọn Nguyên soái để chỉ huy quân đội chống lại. Các tướng đồng đề nghị Tôn Thất Hiệp, vì cho rằng tuy ông còn trẻ, chưa đầy 20 tuổi, chưa từng ra trận lần nào, nhưng là người có trí dũng, đáng được giao trọng trách ấy. Chúa Hiền chấp thuận, đồng thời cử thêm Vệ úy Mai Phúc Lãnh và Ký lục Võ Phi Thừa theo giúp việc cho con.

Vào khoảng tháng 9-10 (dương lịch) năm 1672, quân Trịnh Căn đến Nam Bố Chính. Sau ba tháng dài dò xét, hăm dọa, tố cáo chúa Nguyễn không phục tùng nhà Lê; Trịnh Căn thử tấn công vào lũy Đồng Hới, rồi đưa đoàn chiến thuyền đến sông Gianh và sông Nhật Lệ để chờ đổ bộ. Biết tình thế ấy, Tôn Thất Hiệp cho đắp thêm lũy Trấn Ninh, bố trí thêm súng thần công và cấp báo với chúa Hiền.

Tháng 1 (dương lịch) năm 1673, Lê Thời Hiến xua quân tấn công lũy Trấn Ninh nhưng bị thua khiến Trịnh Tạc nổi giận, nghiêm phạt các quan quân bại trận. Được tăng cường thêm lính, Lê Thời Hiến mở cuộc tấn công thứ hai rất mãnh liệt...Chỉ trong vòng một ngày chiến đấu, lũy Trấn Ninh bị phá nhiều chỗ và đôi bên đã giằng co, chiếm qua chiếm lại từng khu vực một.

Nao lòng, tướng Nguyễn tên Trương Phúc Cang toan bỏ lũy, qua cố thủ bên này sông Lê Kỳ nhưng Tôn Thất Hiệp không đồng ý, e tổn hại cho sĩ khí ba quân. Sau khi toan tính, Tôn Thất Hiệp sai quân phi ngựa đến lũy Sa Kỳ, truyền cho lão tướng Nguyễn Hữu Dật phải tức tốc qua lũy Trấn Ninh cứu khổn.

Nhận lệnh ấy, theo nhà văn Sơn Nam, thì Nguyễn Hữu Dật đã lạnh lùng trả lời rằng: "Ta chỉ lo gìn giữ lũy Sa Phụ nầy mà thôi. Ngay từ hồi đầu chiến trận, ta không được ai chia sớt trách nhiệm nào ở lũy Trấn Ninh cả. Ta không dám đi!". Câu trả lời trong giây phút bất mãn, nhưng sau đó Nguyễn Hữu Dật liền hối hận...

Nguyễn Hữu Dật chạy nhanh lên lũy Sa Phụ, đứng quan sát thực tế của chiến trận. Bên kia sông, súng thần công nổ vang rền, khói bốc mịt trời che lấp lũy Trấn ninh. Chắc chắn Lê Thời Hiến chiếm ưu thắng và tướng sĩ Đàng Trong đang đại bại ở ngay mặt trận chánh. Ông dư hiểu: "Nếu mình không đi cứu viện thì Tôn Thất Hiệp phải đi cứu viện, và liệu vị nguyên soái quá trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm ấy có đủ sức ứng phó?"

Nghĩ vậy, Hữu Dật tức tốc lên yên, kéo quân đến Trấn Ninh, dọc đường, ông cẩn thận vạt vỏ viết vào thân cây mấy chữ tóm tắt: "Hữu Dật đã qua cứu viện lũy Trấn Ninh, xin Nguyên soái (Tôn Thất Hiệp) đến giữ lũy Sa Phụ đang bỏ trống". Đọc tin ấy, Tôn Thất Hiệp qua giữ lũy Sa Phụ và rồi đánh tan được đội thuyền tuần tiểu trên sông Nhật Lệ của Tham đốc Thắng.

Ở mặt trận Trấn Ninh, khi lão tướng đến được nơi ấy thì trời đã tối đen như mực. Trước cảnh binh sĩ lớp chết, lớp bị thương, số còn lại chiến đấu gần như tuyệt vọng, ông ra lệnh gom nhánh cây, cỏ khô, đốt lên sáng rực. Biết có viện binh đến, quân Trịnh không dám tiến. Suốt đêm, Hữu Dật đốc suất quân sĩ tích cực sửa chữa chiến lũy, nhưng trời vừa rạng sáng, Lê Thời Hiến lại tấn công. Quân sĩ Đàng Trong chống trả quyết liệt, cho nên con số bị thương và thương vong của cả hai phía đều tăng lên từng ngày. Lại gặp lúc gíó bấc thổi mạnh, mưa phùn lê thê, lạnh lẽo hơn bao giờ hết, chúa Trịnh Tạc tự xét thấy không thể thắng nổi, nên cho rút quân về...

Làm lễ cầu siêu cho các tướng sĩ Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài chết trận, thả tù binh xong; tháng 4 (dương lịch) 1673, Tôn Thất Hiệp về đến Thạch Xá. Chúa Hiền mừng rỡ, khen ngợi, ban thưởng nhiều vàng bạc. Nhận thưởng, nhưng sau đó Tôn Thất Hiệp từ bỏ gia đình, quyết chí xuất gia, tuy mới 20 tuổi.

Khi chỉ huy chiến trận, ông hoàng Hiệp sống khắc khổ, ngồi trong trại, chỉ có hai vệ sĩ túc trực bên cạnh. Lần nọ, một lão già ở Quảng Bình tên Bật Nghĩa đến trại với ý định “tiến” cho ông một thiếu nữ xinh đẹp. Tuy từ chối nhưng ông không quên cấp cho lão già 10 quan tiền, vì hiểu rằng người cha nọ hành động như vậy chỉ vì quá túng thiếu cơm áo ở thời loạn [theo Sơn Nam, tr. 23].

Hoàng Hiệp liễu đạo năm 22 tuổi (1653 - 1675), ngày rằm tháng 6 năm Ất Mão (ngày 6 tháng 8 năm 1675), an táng ở làng Hiền Sĩ, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (Huế), có lẽ không lưu lại một bút tích, một bài thơ truyền khẩu nào. Nhưng hậu thế tưởng còn nhận được hình bóng bất diệt của ông qua nụ tười phảng phất trên môi của các tượng Bồ Tát trong chùa, giữa tiếng kệ kinh.

Theo tài liệu của chùa Minh Thiện ở núi Bút Sơn, làng Thanh Tuyền, phía Tây dinh Thái Khang (sau chùa dời về ở xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa) thì chính Tống Phước Hiệp, là Tổ khai sơn chùa Minh Thiện, và khi ấy ông có pháp danh là Giác Sanh Thiền Hòa Tử.
Sau thời gian hoằng hóa ở chùa này, ngày rằm tháng 6 năm Ất Mão, nhà sư Giác Sanh Thiền Hòa Tử viên tịch, được chúa Hiền ban thụy hiệu là “Tịnh Đức Phổ Chiếu Hoà thượng” [dẫn lại theo Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, tr. 84].

Thông tin thêm:
Theo Gia phả Nguyễn Phước tộc, thì Tống Phước Hiệp mất vì bệnh đậu mùa. Thương tiếc, chúa Hiền phong tặng ông là: "Minh Nghĩa Tuyên Đức, Công Thần, Khai Phủ Quốc Thượng Tướng Quân, Cẩm Y Vệ, Đô Đốc Phủ Sự, Thiếu Úy Hiệp Quận Công", thụy là Toàn Tiết. Nhà thờ ở làng Vân Thê (Thừa Thiên), mộ táng trong khuôn viên nhà thờ. Vào thời vua Gia Long, ông được xếp vào hàng thượng đẳng công thần, được thờ ở Tả Vu nhà Thái Miếu (Huế). Đến đời vua Minh Mạng được tấn phong là Quốc Uy công.

Bà vợ của ông húy là Nguyễn Thị Hưng, tiểu sử không rõ. Bà mất ngày 13 tháng 2 âm lịch [không rõ năm], mộ táng cùng một chỗ với ông, trong khuôn viên nhà thờ. Tống Phước Hiệp có 4 người con trai là Nguyễn Phúc Nhuận, Nguyễn Phúc Lễ, Nguyễn Phúc Thiều, Nguyễn Phúc Phan. Chỉ có hai ông Nhuận và Thiều là hiển đạt, làm quan đến Chưởng dinh.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Sách tham khảo:
-Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1968.
-Sơn Nam, Nói về miền Nam, chương: Ông Hoàng Hiệp và trận giặc năm 1673. Nhà xuất bản Trẻ, 2009.
-Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (Quyển 3). Tác giả tự xuất bản, Sài Gòn, 1959.
-Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1995.





Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Danh thần nhà Nguyễn: Bùi Quỹ (1795-1861)

Bùi Quỹ, tự: Hữu Trúc, là người huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông nội ông là Bùi Vinh Thận đỗ Hương cống đời Hậu Lê.

Năm Minh Mạng thứ 10 (Kỷ Sửu, 1829), Bùi Quỹ thi đỗ Tiến sĩ, được bổ làm Hàn lâm viện Biên tu. Sau, ông lần lượt trải các chức: Tri phủ Triệu Phong (Quảng Trị), Viên ngoại lang bộ Công, Lang trung...

Năm 1836, cử ông ra làm Án sát sứ ở Quảng Trị, rồi lại triệu về kinh làm Biện lý bộ Công, sau thăng Hữu thị lang, rồi chuyển sang bộ Hình.

Thiệu Trị năm thứ nhất (Tân Sửu, 1841), thăng ông làm Thự Hình bộ Hữu Tham tri. Tháng 8 (âm lịch) năm này, sung ông làm Chủ khảo trường Hương tại Thừa Thiên. Sau khi việc chữa bài của Cao Bá Quát bị phát giác, ông bị xử cách lưu.

Tự Đức năm thứ nhất (Mậu Thân, 1848), cho ông làm Lễ bộ Hữu Tham tri, sung làm Chánh sứ sang Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc ngày nay).

Tháng 7 (âm lịch) năm sau (1849), sứ nhà Thanh là Lao Sùng Quang đến kinh đô Huế làm lễ tuyên phong cho nhà vua [1]. Khoảng thời gian này, Bùi Quỹ cũng vừa về nước, được bổ làm Tả phó Đô ngự sử ở viện Đô sát. Nhưng chẳng lâu sau, ông bị giáng hai cấp, vì đàn hặc Trương Đăng Quế là "chuyên quyền tự tiện" trong vụ mất trộm ở nhà Công chúa An Mỹ, nhưng không được vua nghe [2].

Năm 1851, điều ông làm Thự Án sát sứ ở Tuyên Quang, rồi lần lượt thăng ông làm: Hồng lô tự khanh sung Sử quán Toản tu, Hàn lâm viện Trực học sĩ, Lại bộ Tả tham tri…

Năm 1859, sung ông đi công cán đất Bắc. Khi từ Sơn Tây trở về ông có dâng mật sớ trình bày về việc bố phòng, việc giỏi dở của các quan lại,...được vua khen. Trong năm ấy, đổi ông làm Tuần phủ hộ lý Tổng đốc Bình Phú (tức Phú Yên và Bình Định). Ở đây, nhờ ông ra sức cứu giúp và vỗ về mà nỗi khổ của dân vì mấy năm mất mùa, được vơi đi phần nào.

Năm Tự Đức thứ 14 (Tân Dậu, 1861), Bùi Quỹ ốm chết ở chỗ làm quan, thọ 66 tuổi.

Bùi Quỹ có để lại tập Yên đài anh thoại. Ngoài ra, ông còn cùng với Nguyễn Văn Siêu soạn bộ Đại Việt địa dư toàn biên (còn được gọi là Phương Đình dư địa chí).

Nói về Bùi Quỹ, trong sách Đại Nam chính biên liệt truyện (tr. 631) có đoạn:
“…Bùi Quỹ ở chức lâu ngày, noi theo phép thánh hiền...Tính (ông) giữ chất phác mộc mạc, không thích bóng bẩy bề ngoài. (Ông) thường nói: "Học giả trước hết cốt phải một lòng thành thực làm đầu". Bọn sĩ phu đều khen...Khi tại chức, Bùi Quỹ luôn giữ phong hóa pháp độ, thường dâng sơ tham hặc các đại thần; lại tâu xin cho hiệu chính bộ "Đại Việt sử ký", sửa lại bộ "Đại Nam nhất thống chí", đồng thời quảng bá tập "Đại Nam phong nhã thống biên", để sáng tỏ việc văn trị. Các lời trình bày ý kiến, phần nhiều đều được thi hành”...

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.
Chú thích:
[1] Trước đây lễ Tuyên phong đều tổ chức tại thành Hà Nội (theo Quốc triều sử toát yếu. NXB Văn học, 2002, tr. 358).
[2] Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (truyện "Trương Đăng Quế"), tr. 438.
Sách tham khảo:
-Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện (truyện "Bùi Quỹ"). Nhà xuất bản Văn học, 2004.

Nguyễn Văn Siêu

Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán

Nguyễn Văn Siêu (chữ Hán: 阮文超, 1799-1872), ban đầu tên là Định, sau đổi là Siêu, tự: Tốn Ban, hiệu: Phương Đình [1]; là nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam ở thế kỷ 19.

Ông sinh năm Kỷ Mùi (1799) ở làng Kim Lũ (Đại Kim), huyện Thanh Trì (nay là quận Hoàng Mai, Hà Nội).

Lớn lên, ông theo học với Tiến sĩ Phạm Quý Thích, và kết bạn văn chương với Cao Bá Quát, mặc dù nhà thơ này kém ông 10 tuổi. Năm 26 tuổi, ông thi Hương đỗ Á nguyên (Cử nhân thứ hai), nhưng hơn 10 năm sau mới đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất (1838) dưới triều vua Minh Mạng. Năm 26 tuổi, ông thi Hương đỗ Á nguyên (Cử nhân thứ hai), nhưng hơn 10 năm sau mới đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất (1838) dưới triều vua Minh Mạng.

Giải thích cho sự chậm trễ này, sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” (tr. 722), cho biết vì ông "đọc sách cốt để rèn về cổ văn, không chuyên về học khoa cử, (nên) tới lúc đỗ Hương tiến (Cử nhân), thường cáo từ không đi tuyển cử (nữa), chỉ ở nhà tranh dưỡng chí, tới 10 năm có lẻ, sau mới đỗ Tiến sĩ Ất khoa (tức Phó bảng)".
Cùng đỗ khoa này với ông có Phạm Văn Nghị, Nguyễn Cửu Trường, Doãn Khuê), Đinh Nhật Thận...

Ngay năm đó (1838), ông được bổ làm Hàn lâm viện Kiểm thảo. Năm 1839, ông làm Chủ sự ở bộ Lễ. Năm 1840, thăng ông làm Viên ngoại lang. Cuối năm này vua Minh Mệnh chết, Thiệu Trị nối ngôi.

Biết tài Nguyễn Văn Siêu, nên vừa lên ngôi, vua Thiệu Trị chuyển ông làm Thừa chỉ trong Nội các. Ít lâu sau, cho ông kiêm giữ cả chức Thị giảng (phụ trách việc giảng sách cho các Hoàng tử, trong số ấy có Nguyễn Phúc Hồng Bảo, Nguyễn Phúc Hồng Nhậm)...

Tháng 8 (âm lịch) năm 1841, ông được cử làm Phân khảo tại trường Hương Thừa Thiên. Sau khi việc chữa bài của Cao Bá Quát bị phát giác, Nguyễn Văn Siêu phải tội trượng, đồ. Sau vua xét lại, ông chỉ bị cách chức.

Năm 1847, Nguyễn Phúc Hồng Nhậm lên ngôi (tức vua Tự Đức). Hai năm sau (1849), Nguyễn Văn Siêu được cử làm Phó sứ trong đoàn đi sứ sang Yên Kinh (tức Bắc Kinh, Trung Quốc ngày nay). Khi đi vua Tự Đức có dặn: "Khanh học vấn uyên bác, chuyến này đi sang sứ, xem xét núi sông, phong tục, ghi chép kỹ, khi về tiến lãm"; nên lúc về (1850), ông dâng lên quyển "Vạn lý tập dịch trình tấu thảo" .

Về nước (1850), ông được thăng làm Học sĩ ở viện Tập hiền. Năm 1851, ông ra làm Án sát Hà Tĩnh, rồi Án sát Hưng Yên.

Lúc bấy giờ có lời bàn về việc hủy đê, ông điều trần lên cho là bất tiện, có khảo cứ rõ ràng. Sau vì ông mắc bệnh, phải chuyển đổi, rồi cáo bệnh về làng. Ít lâu sau, ông lại được phục chức Hàn lậm viện Thị độc, nhưng viện lẽ đến tuổi xin về hưu hẳn (1854)[3].

Từ đó cho tới khi qua đời (1872, thọ 73 tuổi), non 20 năm Nguyễn Văn Siêu ở Hà Nội, vui với việc dạy học, soạn sách. Điều đáng kể nữa, đó là việc lập nhà thờ họ ở làng Kim Lũ; và việc ông đã đứng ra tu sửa đền Ngọc Sơn, bắt cầu Thê Húc, xây Tháp Bút và Đài Nghiên...ở tại Hồ Gươm (Hà Nội) vào năm 1865.

Các tác phẩm của Nguyễn Văn Siêu đều bằng chữ Hán, và đã được khắc in.

Về sáng tác, có:
-Phương Đình văn loại (Văn Phương Đình phân loại)
-Phương Đình thi loại (Thơ Phương Đình phân loại)
-Phương Đình thi văn tập (Tập thơ văn Phương Đình)
-Phương Đình tùy bút lục (Sao lục tùy bút của Phương Đình)

Về nghiên cứu, có:
-Chư kinh khảo ước (Lược khảo các kinh)
-Chư sử khảo thích (Khảo và chú các bộ sử)
-Tứ thư bị giảng (Giảng giải đầy đủ về tứ thư)
-Đại Việt địa dư toàn biên, còn gọi là Phương Đình dư địa chí, do Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ soạn thời Tự Đức, in năm 1900 với phần lời tựa của Nguyễn Trọng Hợp.

*
Nói về Nguyễn Văn Siêu, sử nhà Nguyễn là Đại Nam chính biên liệt truyện có đoạn viết:
Nguyễn Văn Siêu ở Hàn Các đã lâu, nên cáo văn điển sách của triều đình phần nhiều (do) ông soạn thảo cả, về thế văn học (của ông) được vua biết đến. Đương thời đều tôn trọng ông. Tới tuổi già rút lui, (ông) thích bảo ban kẻ hậu học, mà giảng sách biện biệt ngay thẳng chỗ giống chỗ khác lấy nghĩa lý làm chủ...(tr. 722-723)
Về sự nghiệp văn chương, đương thời ông và Cao Bá Quát được coi là hai danh sĩ tiêu biểu lúc bấy giờ (Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán). Ngoài các tác phẩm nghiên cứu nghiêm túc, có nhiều phát hiện đáng quý, Nguyễn Văn Siêu còn là một người có tài thơ. Thơ ông đáng chú ý nhất là mảng phản ánh đời sống nghèo đói, cực khổ, loạn lạc của nhân dân thời ấy (như bài: "Tự Bắc Ninh phó Hải Dương vịnh hoài"; "Nhân tự Bắc Ninh lai, ngôn Bắc Ninh sự, cảm tác"); và lòng tự hào của nhà thơ về đất nước, về nhân dân, về dân tộc (như bài "Chương Dương độ"). Bên cạnh đó, ông cũng làm nhiều bài thơ miêu tả cảnh thiên nhiên tình tứ, nhất là cảnh Hà Nội; và làm nhiều bài thơ để trao đổi, gửi tặng cho bạn bè, trong đó có Cao Bá Quát...

Tóm lại, Nguyễn Văn Siêu là một trí thức trong sạch, đạo đức cao đẹp, học thức uyên bác, một nhà giáo gương mẫu, một nhà nghiên cứu nghiêm túc, một nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, đáng trọng. Ông xứng đáng có một chỗ đứng nhất định trong nền văn học và văn hóa Việt Nam thế kỷ 19 .

Ghi nhận công lao, tên Nguyễn Văn Siêu đã được dùng để đặt tên cho đường phố và trường học ở nhiều nơi trong nước Việt Nam.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
1. Nhân ngôi nhà dạy học của ông có hình vuông nên lấy hiệu này.
2. Theo Nguyễn Vinh Phúc, sau khi đỗ Á nguyên, ông không xin làm quan mà ở nhà đọc sách, học thêm và dạy trẻ. Chính trong thời gian này ông kết bạn thân thiết với Cao Bá Quát (tr. 591-560).
3. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (tr. 722). Theo Nguyễn Lộc thì năm 1854, ông dâng sớ thỉnh cầu một số việc nhưng không được phê chuẩn, bèn thác bệnh xin từ quan về nhà (tr. 1221). Theo Nguyễn Vinh Phúc (bài viết đã dẫn), lúc ông Siêu làm Án sát Hưng Yên, thì đê ở đây hay bị vỡ. Vì lẽ đó, ông có gửi về kinh (Huế) một số điều trần, song có lẽ không hợp ý vua, nên ít lâu sau, ông bị giáng trật. Đến năm 1854, thì ông xin về nghỉ.

Sách tham khảo:
-Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện (truyện "Nguyễn Văn Siêu"). Nhà xuất bản Văn học, 2004.
-Nguyễn Lộc, mục từ "Nguyễn Văn Siêu" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, mục từ: "Nguyễn Văn Siêu". Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.
-Nguyễn Vinh Phúc, bài viết về "Nguyễn Văn Siêu" in trong Danh nhân Hà Nội do Vũ Khiêu (Chủ biên). Nhà xuất bản Hà Nội, 2004.

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2011

Thiền sư Tịnh Giác Thiện Trì và chùa Linh Phong ở Bình Định


Chùa Linh Phong ngày nay

Thiền sư Tịnh Giác Thiện Trì hay Linh Phong thiền sư (? - ?), hiệu là Mộc Y Sơn Ông (Ông Núi mặc áo vỏ cây), thường được gọi là Ông Núi (Sơn Ông); là một nhà sư Trung Quốc sang Việt Nam tu trì và lập chùa Linh Phong (còn gọi là chùa Ông Núi) ở núi Bà (Phù Cát, Bình Định) vào thế kỷ 18.

I. Thân thế và hành trạng:
Khảo cứu trong "Sơn môn tự phả" và "Pháp tọa thế thứ đồ vị" có ở chùa Linh Phong trước đây, thì tên tục của Thiền sư Tịnh Giác Thiện Trì (gọi tắt là thiền sư) là Lê Ban, người ở kinh đô Bắc Kinh (Trung Quốc). Nhưng theo danh thần Đào Tấn, tên tục này chưa hẳn đã đúng, vì "biết đâu đây là người lánh đời, giấu tên”[1].

Cũng theo hai tài liệu trên, năm Nhâm Ngọ (1702), thời chúa Nguyễn Phúc Chu, thiền sư đến một nơi có "rừng cây, suối đá sâu thẳm, tịch mịch, vẻ đẹp không gì sánh nổi" là núi Bà ở vùng miền biển Phương Phi (Phương Thái, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định), cách thành Trà Bàn (Đồ Bàn) hơn 30 dặm để ẩn tu. Trước thiền sư tu trì trong hang núi ở phía đông, sau mới đến chừng chừng núi "phát gai dại, vác đá to xây chỗ này, lấp chỗ kia, kết cỏ làm tranh, dựng lên am nhỏ, đặt tên là chùa Dũng Tuyền".

Tương truyền, thiền sư lấy vỏ cây làm y phục. Mỗi khi cần vật thực, thiền sư vào núi kiếm củi, bó thành bó to rồi đem xuống núi đặt bên vệ đường, người dân địa phương đem gạo, rau...đổi lấy.

Năm Quý Sửu (1733), chúa Nguyễn Phúc Chú vì mộ đức thiền sư nên ban hiệu là "Tịnh Giác Thiện Trì Đại Lão Thiền Sư", và lệnh xây cất lại am Dũng Tuyền thành một ngôi chùa lớn lợp ngói, đặt tên là "Linh Phong Thiền Tự".

Năm Tân Dậu (1741), chúa Nguyễn Phúc Khoát cho mời thiền sư đến phủ chúa (Phú Xuân) để tham vấn học hỏi về Phật pháp. Ở đấy gần một tháng, được chúa rất quý mến, nên khi về thiền sư được ban cho áo cà sa có vòng ngọc và móc vàng, để làm pháp phục.
Thiền sư Tịnh Giác Thiện Trì viên tịch tại chùa Linh Phong vào thời Tây Sơn (1778-1802), đồ chúng lập tháp thờ ở bên phải chùa vào năm Thái Đức (hiệu của Nguyễn Nhạc) thứ 8 (1785). Tháp có câu đối chữ Hán:
Quyền thạch tiệm thành sơn, thản thản u trinh thường lạc thổ;
Chúng lưu năng vi thủy, man man không tế động đình thiên.
Nghĩa là:
Gom đá dần thành núi, đất Thường Lạc (cõi Phật) thênh thang tĩnh mịch;
Nhiều dòng tạo nên sông, trời Động Đình bát ngát mênh mông.

Song có người bảo rằng tháp mới xây dựng sau này để làm kỷ niệm, chớ thật ra thiền sư đã bỏ đi đâu mất kể từ khi Trương Phúc Loan chuyên quyền, và trong nước có loạn...
Theo Đào Tấn, thì thiền sư Tịnh Giác Thiện Trì có chú giải bộ kinh Pháp hoa và soạn quyển Ngọc Thạch đồ chương gồm 7 mục: 1/ Ngôi chùa lưng chừng núi. 2/ Thuở dựng chùa Dũng Tuyền. 3/ Hiệu là Ông núi. 4/ Gặp ta trong đá. 5/ Nơi yên tĩnh. 6./ Tính khí lặng lẽ. 7/ Nhà đá (thạch thất). Ngoài ra, thiền sư "cũng có làm thơ đề vịnh, dấu bút mấy tờ, nhưng sư ở chùa vì không biết nên lấy số giấy ấy bồi bức vẽ tượng...rất tiếc thay".

II Linh Phong cổ tự:
Trên sườn phía Đông Nam núi Bà, cách thành Trà Bàn (Đồ Bàn) hơn 30 dặm; nay thuộc địa phận thôn Phương Phi (xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định), trước đây có một ngôi chùa cổ có tên là Linh Phong Thiền Tự (còn gọi là chùa Ông Núi).

Đây là một danh lam của tỉnh, sách Đại Nam nhất thống chí chép:
Chùa Linh Phong ở thôn Phương Phi, huyện Phù Cát, lưng dựa vào núi cao (núi Bà), mặt trông ra đầm Biển cạn (tức đầm Thị Nại), xung quanh có nước suối lượn quanh phong cảnh thật đẹp.

Sách Đại Nam dư địa chi ước biên chép:
Chùa Linh Phong ở thôn Phương Phi, huyện Phù Cát, lưng dựa núi cao, nhìn ra đầm Hạc Hải (tức đầm Thị Nại), hoa cỏ đẹp tươi. Nên có câu: "Mây lành khắp chốn, chùa Linh Phong bao bọc hoa tươi", và có câu đối (bằng chữ Hán) dịch ra như sau:
Bờ biển dấy duyên lành, mưa móc khắp trời nhuần đẹp đất;
Linh Phong ngưng khí tốt, mây lành mọi chốn phủ nhân gian.

Như trên đã viết, ban đầu chùa Linh Phong (Bình Định) chỉ là một am tranh, sau mới dựng thành một ngôi chùa lớn lợp ngói, và được chúa Nguyễn Phúc Chú ban tên là Linh Phong Thiền Tự.

Theo "Linh Phong tự ký" của danh thần Đào Tấn, thì thiền sư viên tịch "trong thời loạn lạc" (ám chỉ thời Tây Sơn). Sau đó, các đồ chúng lập tháp thờ ở bên phải chùa vào năm Thái Đức (niên hiệu của Nguyễn Nhạc) thứ 8 (1785).
Đến năm Gia Long thứ 7 (1808), nghe lời Thánh mẫu là Hoàng hậu Hiếu Khương, nhà vua ban lệnh không cho ai được xâm phạm hay lấy các vật dụng ở chùa trong khi chờ đợi trùng tu. Tuy nhiên, mãi đến đời Minh Mạng, chùa Linh Phong mới được sửa sang lón.
Sử nhà Nguyễn kể: "một hôm nhà vua bị bệnh, vừa chợp mắt thì mộng thấy một vị sư già mặc áo vỏ cây đứng bên giường hầu quạt, đến sáng thì khỏi bệnh. Khi ngự triều, nhà vua đem chuyện ấy hỏi các quan, có người tâu rằng vị sư già đó có lẽ là Linh Phong thiền sư ở chùa Linh Phong ngày xưa". Vì vậy, năm 1826, nhà vua ban cho chùa này một chiếc áo cà sa mới may để thờ, đồng thời cho lấy 120 lượng bạc ở trong kho để trùng tu lại chùa [2].

Đến năm 1884-1885, dưới triều Kiến Phúc và Hàm Nghi, đại thần Đào Tấn "bỏ quan về Nam, ẩn giấu tích ở chùa Linh Phong để lánh loạn".
Năm 1895, Đào Tấn được bổ làm Thượng thư bộ Công. vì muốn sửa sang ngôi cổ tự, nên ông đem việc ấy tâu lên Tây cung (chỉ mẹ vua Thành Thái). Nghe lời mẹ, vua Thành Thái bèn giao cho tỉnh thần 70 lạng bạc lo việc trùng tu chùa, đồng thời sai hiểu dụ dân trong tỉnh quyên góp thêm, đến tháng 8 (âm lịch) năm Đinh Dậu (1897) thì hoàn tất, và quang cảnh chùa lúc bấy giờ rất đẹp. Năm Thành Thái thứ 15 (1903), Đào Tấn viết "Linh Phong tự ký" nhằm ghi lại "chút chuyện về chùa Linh Phong để khỏi mất mát".

Sau đó trải qua thời gian và chiến tranh, ngôi cổ tự trên chỉ còn lại cổng tam quan ở mặt đông và một bửu tháp. Năm 2004, một ngôi chùa mới đã dựng trên vị trí của chùa Linh Phong ngày xưa.

III. Thông tin liên quan:
Năm Quý Sửu (1733), khi chùa Linh Phong được dựng kiên cố lần đầu, chúa Nguyễn Phúc Chú có ban cho ban chùa một tấm hoành và hai tấm liễn đối. Tấm hoành trên có khắc bốn chữ "Linh Phong Thiền Tự", phía trái khắc chữ "Vĩnh Khánh, tháng Giêng năm Quí Sửu", phía mặt có khắc chữ "Quốc Chủ ngự đề".
Trên hai tấm liễn có khắc câu đối như sau:
Hải ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư Phật thổ;
Linh Phong ngưng thoại khí, tường vân biến địa ấm nhân gian.
Nghĩa là:
Bờ biển gặp duyên may, mưa pháp khắp trời thấm nhuần đất Phật;Núi Linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở người đời.
Ngoài những câu hát về chùa Ông Núi (tức chùa Linh Phong) còn lưu truyền trong dân gian, còn có một số thơ viết về ngôi cổ tự này, trong số đó có thơ của Phan Thanh Giản, Đào Tấn [9], Võ Kiêm, Quách Tấn...Giới thiệu hai đoạn hát dân gian:

Cây che đá chất chập chồng,
Biển giăng dưới núi chùa lồng trong mây.
Bụi đời không bợn mảy may,
Chút thân rộng tháng dài ngày thảnh thơi.
Và:
Ông Núi đi đâu
Bỏ bầu sơn thủy
Đủ nhân đủ trí
Thêm vỹ thêm kỳ...
Chùa xưa nhạt bóng tà huy,
Xui lòng non nước nặng vì nước non..

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Những chữ nghiêng trong ngoặc kép là trích trong "Linh Phong tự ký" của Đào Tấn.
[2] Theo “Chính biên”, tr. 992-993.

Sách tham khảo:
-Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm Tổng tài), Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch, trong bài gọi tắt là "Chính biên"). Nhà xuất bản Văn học, 2004.
-Đào Tấn, "Linh Phong tự ký" (viết năm 1903) in trong Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr. 111-115.
-Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1992.
-Quách Tấn, Bước lãng du. Nhà xuất bản Trẻ, 1996.






Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Danh thần nhà Nguyễn: Trương Quốc Dụng

Trương Quốc Dụng (1797-1864), khi trước tên là Khánh, tự: Dĩ Hành; là danh thần, là nhà văn, và là người có công chấn hưng lịch pháp Việt Nam thời Nguyễn.

I. Thân thế và sự nghiệp:
Trương Quốc Dụng sinh ngày 5 tháng Chạp năm Đinh Tỵ (1797) tại làng Phong Phú; nay là xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Tổ tiên ông từ Thăng Long (Hà Nội) vào định cư ở đất Phong Phú từ năm 1549, có nhiều người làm quan lại. Cố nội ông là Trương Quốc Nghìn làm Chánh bảo vệ kinh thành Thăng Long thời Hậu Lê. Ông nội ông là Trương Quốc Kỳ, đỗ đầu Hương cống (khoa thi 1753), là thầy dạy Thái tử Lê Duy Vĩ. Cha ông là Tú tài Trương Quốc Bảo, một thầy giáo nổi tiếng hay chữ, được phong hàm Trung thuận đại phu). Mẹ ông là bà Trần Thị Cường.
Thuở nhỏ, Trương Quốc Dụng nổi tiếng thông minh, chăm chỉ, ham mê sách vở và có tài văn chương. Dưới triều Minh Mạng, năm 1821, ông thi đỗ Tú tài. Năm 1825, ông thi đỗ Cử nhân, và đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu (1829).

Ban đầu (1830), ông được bổ làm Tri phủ phủ Tân Bình (Gia Định), sau đổi về kinh (Huế) làm Biên tu ở viện Hàn lâm, dần thăng đến Hình bộ lang trung. Vì phạm lỗi, bị bãi quan, sau cho theo bộ Lại để lấy công chuộc tội.

Năm 1833, ông được khởi phục chức Tư vụ để vào quân thứ ở Phiên An (Gia Định). Ở đây, ông theo Tham tán đại thần Trương Minh Giảng tham gia việc đánh dẹp cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, và đánh đuổi quân Xiêm La vào năm 1833-1834. Khi việc yên, ông được cất lên làm Chủ sự, rồi lần lượt trải các chức: Viên ngoại lang bộ Hộ, Án sát sứ Quảng Ngãi và Hưng Yên.

Năm đầu Thiệu Trị (1841), ông về làm quyền biện công việc bộ Lễ, sau thăng chức Tả thị lang, lần lượt trải thêm ba bộ là bộ Lại, bộ Hình và bộ Công. Năm 1846, thăng ông làm Thự Tả Tham tri bộ Công.

Tự Đức năm đầu (1848), Trương Quốc Dụng dâng sớ trình bày 4 việc, được vua khen và cho thi hành. Đó là: "dè dặt tài dụng, thương xót việc hình ngục, tinh giảm sự tiêu phí vô ích, và sửa đổi thói tật của sĩ phu" [1].

Biết tài, nhà vua sung ông làm Kinh duyên giảng quan, kiêm coi Khâm thiên giám và giữ ấn triện Đô sát. Sau ông thăng làm Thượng thư bộ Hình, sung Quốc sử quán Tổng tài [2]. Theo sử liệu thì ông cũng từng được cử đi chấm thi ở các trường thi Hương, thi Hội nơi đất Bắc.

Tháng 5 (âm lịch) năm 1862, quân Tạ Văn Phụng vây hãm thành tỉnh Hải Dương. Nghe theo lời đình thần đề cử, nhà vua sung Trương Quốc Dụng (khi ấy đang chức Thượng thư bộ Hộ) làm Hải Yên Thống đốc quân thứ.
Từ Hưng Yên, Trương Quốc Dụng cùng với Đào Trí và Phạm Tam Tỉnh dẫn quân đi đánh, lấy lại được phủ Bình Giang, rồi thành tỉnh Hải Dương. Nhưng sau khi ông theo cửa tây vào thành, thì bị quân đối phương vây lại. Từ trong thành, ông bày kế cho quân ra đánh, phá vỡ được. Sau trận, ông được thăng làm Hiệp tá, Đào Trí được thăng làm Thống chế.

Năm 1863, thăng ông làm Hiệp biện đại học sĩ, nhưng vẫn làm Thống đốc quân vụ như cũ.
Tháng 6 (âm lịch) năm 1864, đạo quân thứ Hải Yên đánh nhau với quân Tạ Văn Phụng ở Quảng Yên. Quan quân nhà Nguyễn thất thế, bị quân thủy bộ của đối phương vây kín. Trương Quốc Dụng (khi ấy đang chức Hiệp thống), Tán lý Văn Đức Khuê, Tán tương Trần Huy San đều chết trận. Chưởng vệ Hồ Thiện bị bắt sống không chịu khuất mà chết, còn biền binh thì bị thương và chết rất nhiều.

Thương tiếc, vua Tự Đức sai người đưa quan tài về táng ở quê (làng Phong Phú), đồng thời sai quan đến tế.

Năm 1865, bàn định công tội, nhà vua phán rằng: "Trận đánh tại La Khê (nay thuộc xã Tiền An, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh)...Trương Quốc Dụng suy tính thất cách, tội ấy cố nhiên khó chối từ được, nhưng trẫm nghĩ Quốc Dụng là người giúp việc cũ…bị dao ngăn đạn lạc đến nỗi bỏ mạng nơi chiến trường, rất đáng tiếc. Chuẩn cho truy tặng (ông) hàm Đông các Đại học sĩ". Đến năm 1880, Trương Quốc Dụng được thờ ở đền Trung Nghĩa (Huế).

Con ông là Trương Quốc Quán, đỗ Cử nhân, sau mộ quân nghĩa dũng đi theo quân thứ của cha (khi cha ông được cử làm Hải Yên Thống đốc quân thứ), được đặc cách làm Chủ sự.

Tác phẩm của Trương Quốc Dụng có:
•Trương Nhu Trung thi tập (Tập thơ Trương Nhu Trung) bằng chữ Hán.
•Thoái thực ký văn (Ghi chép những điều nghe được lúc lui về dùng cơm) viết bằng chữ Hán, gồm 8 quyển. Đây là một công trình tổng hợp nửa khảo cứu, nửa bút ký, ghi sơ sài nhiều việc, được xếp theo các thể loại sau:
- 1/ Phong vực: nói về sự thay đổi của sông núi, đường sá từ thời Hùng Vương đến thời Minh Mạng. Có phụ chép về Cao Miên, Tiêm La và Miến Điện...- 2 và 3/ Chế độ: nói về tước cấp, bổng lộc, khoa cử (văn võ), quân chế, thuế lệ, tiền văn, quân cấp công điền...từ thời Lý đến thời Minh Mạng.- 4/ Nhân phẩm: nói về học hành và các nhân vật lịch sử từ thời Trần đến thời Minh Mạng.
- 5/ Cổ tích (có phụ phần sơn xuyên): Phần nhiều nói về các đình chùa, miếu mạo, thành trì,...ở miền Trung và và miền Bắc Việt Nam. Về Lam Thành sơn (thuộc Nghệ An) có nói đến chuyện đồng trụ (cột đồng Mã Viện). Về sông có nói thêm về các đê điều.
- 6/ Trưng ký (những điều lạ): ghi các chuyện thần thoại có liên quan đến các nhân vật lịch sử Việt Nam.
- 7/ Tạp sự (chuyện vặt): ghi các chuyện vặt về thơ văn, thi cử, thành thánh, xử án,…
- 8/ Vật loại: nói về cây cối, thóc lúa, ngô khoai chim muông,...và các loại khác như hoa, gỗ, tre, chè,...

Ngoài ra, ông còn biên tập sách "Chiếu biểu luận thức" (Bàn về cách thức của chiếu, biểu) và tham gia duyệt sách "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục" (Kính vâng san định sử Việt đại cương và chi tiết làm tấm gương soi suốt cổ kim). Nhân việc này, ông có làm bài "Khâm định vịnh sử phú" (Phú vâng mệnh vua vịnh sử).

Giới thiệu một bài hát nói của ông:
Nước trời một vẻ
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc [4]
Vẻ thu thiên rất mực phong quang
Trăng trăng bạc, gió gió vàng
Giục lòng khách tha hương tình khiển hứng
Chén rượu hoàng hoa cơn chuếnh choáng
Câu thơ "Bạch tuyết" lúc ngâm nga [5]
Bạn cùng người tuyết, nguyệt, phong, hoa
Lấy thi tửu, cầm ca làm thích chí
Có lưu lạc mới trải mùi thế vị
Lúc phong lưu càng lắm vẻ xuân tình
Tỉnh ra rồi mới giật mình.

II. Ghi nhận công lao:
Sử nhà Nguyễn là Đại Nam chính biên liệt truyện, có đoạn chép về Trương Quốc Dụng như sau:
"Quốc Dụng là người trầm tĩnh, dẫu làm quan (song) chưa từng rời quyển sách, mọi người đều suy tôn là học rộng…Tương truyền là nhà làm lịch bị thất truyền, (khi) Quốc Dụng làm quản lĩnh Khâm thiên giám, hàng ngày truyền dạy cho, đến nay mới nối được nghề học ấy. Quốc Dụng ngày thường có kiến văn được điều gì đều ghi chép cả, có tập “Thoái thực ký văn lục” truyền lại ở đời" [3].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân trong sách Đại học sĩ Trương Quốc Dụng cũng đã viết rằng:
"Trương Quốc Dụng là một nhà thiên văn học, một người thầy đào tạo ra những nhà thiên văn học cho xứ sở nữa đầu thế kỷ XIX. Với tư cách là một nhà thiên văn học có công truyền dạy, chấn hưng khoa làm lịch Việt Nam thời Nguyễn. Tên ông Trương Quốc Dụng còn đáng được ghi vào danh sách các nhà thiên văn học Việt Nam. Và cũng có thể tôn vinh ông là một trong các vị hậu tổ của khoa làm lịch Việt Nam .
Ngoài ra, ông còn được người đời đánh giá là "vị quan có tài cao, đức trọng, học rộng, biết nhiều, công chính thanh liêm, tính tình ngay thẳng, không ưa nịnh bợ, chạy chọt".

Để tướng nhớ công lao của Trương Quốc Dụng, Văn Đức Giai và các liệt sĩ đã hy sinh tại trận La Khê (1864), năm 1877, dân làng La Khê đã lập đền thờ các ông. Trong đền có bức hoành phi "Công nhược Thái Sơn" (công lao như núi Thái Sơn) và nhiều đôi câu đối, trong đó có câu:
Hồng Lĩnh giáng thần, nho tướng khoa danh song tuyệt lĩnh;
Tiên Thành hợp miếu, trung thần tâm sự các thiên thu.
Nghĩa là:
Hồng Lĩnh giáng thần, nho tướng khoa danh hai đỉnh vút;Tiên Thành hợp miếu, trung thần lòng sáng mãi nghìn thu..
Ngày 31 tháng 7 năm 2009, khu lăng mộ và đền thờ Trương Quốc Dụng ở xã Thạch Khê (Thạch Hà, Hà Tĩnh) đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.
Chú thích:
[1] Theo Chính biên, tr. 634.
[2] Chép theo Chính biên (tr. 634). Từ điển văn học (bộ mới, tr.1863) và Từ điển bách khoa Việt Nam (mục: "Trương Quốc Dụng") đều ghi ông làm "Thượng thư bộ Hình kiêm Phó Tổng tài Quốc sử quán".
[3] Trích trong Chính biên, tr. 635.
[4] Dịch nghĩa: Nước thu với trời xanh một màu (thơ Vương Bột đời Đường)
[5] Bạch tuyết là tên một khúc hát cổ.
Sách tham khảo:
•Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm Tổng tài), Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch, trong bài gọi tắt là Chính biên). Nhà xuất bản Văn học, 2004.
•Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm Tổng tài), Quốc triều chính biên toát yếu (bản dịch, trong bài gọi tắt là Toát yếu). Nhà xuất bản Văn học, 2002.
•Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, mục: " Thoái thực ký văn ". Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003.
•Nguyễn Lộc, mục từ "Trương Quốc Dụng" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
•Nguyễn Đắc Xuân, Đại học sĩ Trương Quốc Dụng Qua sử sách tư liệu xưa và nay. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2006.




Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Quýt (thơ)

Quýt

Anh đi quýt vừa nhú lá
Đến nay trái đã bốn mùa.
Không biết xứ người xa lạ,
Anh còn nhớ đến vườn xưa.

Lắm lúc em nằm thao thức
Ôm con lòng nghĩ đến anh …
Ngắm trẻ giống cha như đúc,
Buồn cho phận hẫm riêng mình.

Buồn như mùng xanh ngày cưới
Vá đi, vá lại…mấy lần.
Có đêm cuộn tròn thay gối,
Mơ về ngày cũ bên anh.

Sáng nay quýt hồng chín rộ,
Tỏa bao hương trái thơm nồng.
Muốn hái làm quà…lại sợ,
Biết “người ấy” có vui không ?…

Bùi Thụy Đào Nguyên





Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Dương Đức Nhan và Tinh tuyển chư gia luật thi

Dương Đức Nhan là người ở xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hà Dương, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng).

Ông là học trò của Thám hoa Lương Nhữ Học. Năm Quý Mùi (1463) đời Lê Thánh Tông, Dương Đức Nhan thi đỗ Tiến sĩ, làm quan trải đến chức Hữu thị lang bộ Hình, tước Dương Xuyên hầu.

Tác phẩm duy nhất và nổi tiếng của ông còn để lại là bộ Tinh tuyển chư gia luật thi.
Tinh tuyển chư gia luật thi còn được gọi là: Thi gia tinh tuyển (theo Phan Phu Tiên và Phan Huy Chú), Tinh tuyển tập (theo Bùi Huy Bích), Tinh tuyển chư gia thi tập (theo cuối bản A. 2657) và Cổ kim chư gia tinh tuyển (theo nghiên cứu của Trần Văn Giáp).

Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, thì bộ sách này có lẽ được Dương Đức Nhan biên soạn khi chưa đỗ Tiến sĩ, tức trước năm 1463. Và theo Lê Quý Đôn, thì bộ sách này gồm 15 quyển, nhưng theo Phan Huy Chú thì nó chỉ "có 5 quyển, chép từ Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trung Ngạn trở xuống, (gồm) 13 thi gia, tất cả 472 bài".

Tuy nhiên, hai bản sách hiện còn lưu giữ ở Thư viện Khoa học xã hội (Hà Nội) đều không được đầy đủ như lời Phan Huy Chú đã ghi. Liệt kê ra như sau:

1. Bản A.574 là sách chép tay, gồm 163 tờ (khổ 30cm x 20 cm) có tên là Tinh tuyển chư gia luật thi, không có tựa, bạt và chú dẫn. Tờ thứ nhất có đề là: "Hồng Châu Lương Như Hộc Tường Phủ phê điểm; môn nhân Dương Đức Nhan biên tập" (Lương Như Hộc phê bình và chấm câu; học trò ông là Dương Đức Nhan biên tập).
Mục lục như sau:

Quyển Số tờ Triều đại Tên thi gia Số bài thơ
I 1-13 Nhà Trần Trần Nguyên Đán 44
13-25 - Nguyễn Trung Ngạn 42
25-30 - Phạm Sư Mạnh 24
31-34 - Phạm Nhân Khanh 13
35-50 - Nguyễn Phi Khanh 15
50-64 - Phạm Nhữ Dực 63
64-66 - Lê Cảnh Tuân 9

II 1-13 Nhà Lê Lê Trãi (Nguyễn Trãi) 54
13-20 - Lý Tử Tấn 35
21-33 - Nguyễn Mộng Tuân 54
33-35 - Vũ Mộng Nguyên 9
Cộng 11 tác gia 362 bài

Từ tờ 35 của quyển II đến tờ 97 là phần phụ lục, đề là Phụ Lục Dụ Trai tiên sinh thi tập. Chưa rõ Dụ Trai là ai, nhưng theo theo Trần Văn Giáp thì đây là một tập thơ có vào đời Tự Đức.

2. Bản A.2657 là sách in ván gỗ, ở đầu sách ghi là Tinh tuyển chư gia luật thi, nhưng ở cuối sách lại ghi là Tinh tuyển chư gia thi tập [3], nhưng hiện chỉ còn 2 quyển là quyển 4 và quyển 5, gồm 71 tờ. Mục lục như sau:

Quyển Số tờ Triều đại Tên thi gia Số bài thơ
IV 2-18 Nhà Hậu Lê Lê Trãi (Nguyễn Trãi) 52
18-31 - Lý Tử Tấn 40
V 31-32 - Nguyễn Mộng Tuân 99
31-34 - Vũ Mộng Nguyên 28
Cộng 4 tác gia 219

So sánh quyển 4 và quyển 5 của hai bản, thì thấy bản A.2657 hơn bản A.574 là 67 bài thơ.

Tinh tuyển chư gia luật thi không phải là một tuyển tập thơ toàn bích về từng triều đại hay về cả một thời đại. Hình như đây chỉ là một tuyển tập "bổ sung những bài còn thiếu" (lời Lê Quý Đôn). Tuy bài tựa ở đầu bộ sách do chính Hoàng Đức Lương viết nay đã mất, nhưng Lê Quý Đôn còn ghi được một đoạn trong Toàn Việt thi lục, thì thấy đó là một lời thanh minh, than thở của người soạn sách về sự bất lực của mình trong việc sưu tầm, và tình cảm dân tộc thật rõ nét sau những lời cảm thán này.

Bùi Thụy Đào Nguyên giới thiệu.

Sách tham khảo:
-Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (Tập 3, phần "Văn tịch chí"). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.
-Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003.
-Nguyễn Huệ Chi, mục từ: "Tinh tuyển chư gia luật thi" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (mục từ "Dương Đức Nhan"). Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1992.




Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Nguyên Chẩn, thi nhân đời Đường

Nguyên Chẩn (元稹, 779-831), tự: Vi Chi (微之); là nhà thơ Trung Quốc thời Trung Đường [1].

Ông là người Lạc Dương, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc). Cha mất sớm, nhà nghèo nhưng nhờ thông minh và chăm chỉ học tập, năm 9 tuổi đã biết viết văn. Đến 15 tuổi, ông thi đỗ khoa Minh kinh, được bổ chức Hiệu thư lang. Sau đó, ông đỗ chế khoa, được giữ chức Hữu thập di.

Làm quan tại triều, ông thường đấu tranh với các thế lực đang làm lũng đoạn triều chính, trong đó có phe hoạn quan. Nhưng cuối cùng, việc làm này thất bại, ông bị giáng chức làm Sĩ tào tham quân ở Giang Lăng, rồi làm Tư mã ở Thông Châu.

Sau, nhờ có các hoạn quan như Thôi Đàm Tuấn, Thôi Hoàng Giản...giúp đỡ, ông thỏa hiệp được với các thế lực trên, không kiên trì đấu tranh được như bạn thân ông là Bạch Cư Dị.

Năm 822 đời Đường Mục Tông (ở ngôi: 820-824), sau khi nắm giữ một vài chức vụ tại triều, Nguyên Chẩn và Bùi Độ đều được cử lên làm Tể tướng [2]. Vì ghen công với Bùi Độ, ông cùng Thôi Hoàng Giản mưu phá. Bùi Độ biết được tâu việc lên vua, ông bị đưa đi làm Thứ sử ở Đồng Châu, rồi làm Thứ sử ở Việt Châu kiêm quan sát sứ ở Chiết Đông.

Đến đời Đường Văn Tông (ở ngôi: 826-840), ông được đổi làm Tiết độ sứ ở Vũ Xương (nay là thủ phủ tỉnh Hồ Bắc).

Năm 831, Nguyên Chẩn mất tại chức lúc 52 tuổi.

Tác phẩm Nguyên Chẩn để lại có:
-Nguyên thị Trường Khánh tập (Tập thơ của Trường Khánh họ Nguyên), gồm 60 quyển.

-Hội chân ký (Ghi chuyện gặp gỡ chân tình). Đây là truyện ngắn tả mối tình giữa Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy, đặt nền mống cho sự ra đời vở tạp kịch Tây sương ký (Truyện ký mái Tây) [3] nổi tiếng.

Ngoài ra, những lời bàn luận về thế sự của ông và Bạch Cư Dị, còn được tập hợp trong 75 thiên Sách lâm (Rừng sách).
*
Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị là đôi bạn thân thiết: là bạn thơ và là bạn đồng triều, rồi vì cùng đấu tranh chính trị trong nội bộ mà cùng bị biếm. Đối với thi đàn lúc bấy giờ, hai ông đã tích cực đề xướng phong trào Tân nhạc phủ. Bài tựa "Nhạc phủ đề cổ" của Nguyên Chẩn, và "Ký Nguyên Chẩn thư" (Thư gửi Nguyên Chẩn) của Bạch Cư Dị có thể xem là những tuyên ngôn của khuynh hướng sáng tác hiện thực trong thơ ca Trung Quốc vào đầu thế kỷ 9.

Riêng về Nguyên Chẩn, rất nhiều tác phẩm của ông đã được phổ nhạc và lưu truyền trong cung cấm, nên lúc bấy giờ ông còn được là Nguyên tài tử. Đề tài mà ông thường viết là tình yêu, là sự tiếc thương cho người đã khuất. Đây là sở trường của ông, do ông giàu từ ngữ và tinh tế khi tả, nổi bật có bài "Xuân hiểu" (Sáng xuân), "Khiển bi hoài" (Giải nỗi sầu nhớ, gồm 3 bài) [4],...

Song bộ phận có giá trị nhất của Nguyên Chẩn lại là thơ phúng dụ. Thơ phúng dụ phần lớn viết theo thể cổ phong và nhạc phủ, cũng dùng những đề tài giống như Bạch Cư Dị, để nói lên tâm tình bất mãn của tác giả đối với tình hình chính trị (trong đó có việc ông phê phán chủ trương gây chiến), đồng thời ít nhiều phản ánh cuộc cuộc sống của người dân đương thời. Đáng chú ý các bài: "Thái châu hành" (Bài hành lặn xuống lấy hạt châu), "Tróc bổ hành" (Bài ca lùng bắt), "Chức phụ từ" (Bài ca gái dệt), "Điền gia từ" (Lời người làm ruộng), "Viễn chinh phu" (Chồng đi viễn chinh), v.v...

Song nhìn chung, diện phản ánh ở thơ phúng dụ của Nguyên Chẩn không rộng bằng ở Bạch Cư Dị, và mức độ phê phán cũng không mạnh bằng. Mặc dù vậy, chủ trương văn học và thực tiễn sàng tác của Nguyên Chẩn đã có ảnh hưởng khá nhiều đối với các nhà thơ hiện thực đương thời và đời sau.

Khen ngợi ông và Bạch Cư Dị, danh sĩ Hoàng Thao thời Vãn Đường viết:
"Đời Đường, trước thì có Lý Bạch, Đỗ Phủ; sau thì có Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị, thật đúng như biển cả mênh mông, như Hoa Nhạc (tức núi Hoa Sơn ở Thiểm Tây) ngất trời".

Đến đời Thanh, danh sĩ Triệu Dực lại viết: " Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị thích bình thường, giản dị...(làm thơ) phần nhiều gặp cảnh sinh tình, nhân việc nảy ý, cảnh trước mắt, lời nói cửa miệng, tự nhiên có thể đi sâu vào lòng người, ai cũng nghiền ngẫm, ngâm nga".


Giới thiệu ba trong số bài thơ tiêu biểu của Nguyên Chẩn.

1. Chức phụ từ

Phiên âm:
Chức phụ hà thái mang,
Tàm kinh tam ngọa hành dục lão.
Tàm thần nữ thánh tảo thành ti,
Kim niên ti thuế trừu chinh tảo.
Tảo chinh phi thị quan nhân ác,
Khứ tuế quan gia sự nhung tác.
Chinh nhân chiến khổ thúc đao sang,
Chủ tướng huân cao hoán la mạc.
Sào ti chức bạch do nỗ lực,
Biến tập liêu cơ khổ nan chức.
Đông gia đầu bạch song nữ nhi,
Vị giải khiêu văn giá bất đắc.
Thiềm tiền niễu niễu du ti thượng,
Thượng hữu tri thù xảo lai vãng.
Tiễn tha trùng trải giải duyên thiên,
Năng hướng hư không chức la võng.

Dịch nghĩa:
Bài ca gái dệt
Gái dệt mới bận rộn làm sao,
Tằm đã ngủ ăn ba rồi, tằm sắp chín.
Nhờ ơn thần tằm và bàn tay gái kỳ diệu nên sớm thành tơ,
Năm nay thuế tơ thu sớm hơn kỳ hạn.
Thuế thu sớm phải đâu quan độc ác,
(Chỉ vì) năm ngoái quan quân có việc binh đao.
Binh sĩ chiến đấu gian khổ, cần lụa buộc vết thương,
Chủ tướng lập công to, cần lụa thay màn trướng.
Ươm tơ dệt lụa còn có thể gắng sức,
Giật máy thay sợi, thật khó nhọc khôn làm nổi.
Láng giềng phía đông có đôi gái đầu bạc trắng,
Vì dệt hoa văn khéo nên không lấy được chồng.
Trước thềm sợi tơ bay phấp phới,
Con nhện tài tình, nhịp nhàng đan qua lại.
Khen cho loài sâu bọ mà biết chằng sợi ngang trời,
Có thể giữa khoảng hư không, dệt nên màng lưới.


Khiển bi hoài (kỳ 2)
Phiên âm:
Tích nhật hý ngôn thân hậu sự,
Kim triêu đô đáo nhãn tiền lai.
Y thường dĩ thí hành khan tận,
Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai.
Thượng tưởng cựu tình liên tỳ bộc,
Dã tằng nhân mộng tống tiền tài.
Thành tri thử hận nhân nhân hữu,
Bần tiện phu thê bách sự ai!

Dịch nghĩa:
Giải nỗi sầu nhớ (bài 2)
Ngày trước cứ nói đùa những chuyện về sau,
Bây giờ đều đén ngay trước mắt.
Áo quần của nàng đã dần dần đem bố thí hết,
Kim chỉ vẫn còn nhưng không nở lấy ra.
Nhớ ân tình xưa, (ta) thương cả những kẻ nô tỳ,
Nhân mộng thấy nàng, (ta) đốt giấy tiền, vàng mã.
Vẫn biết nổi đau khổ (tử biệt) này ai ai cũng gặp phải,
(Chỉ xót xa) vợ chồng nghèo nên trăm chuyện buồn thương.

3. Hành cung
Phiên âm:
Liêu lạc cố hành cung
Cung hoa tịch mịch hồng
Bạc đầu cung nữ tại
Nhàn tọa thuyết Huyền Tông.

Ngô Tất Tố dịch thơ:
Hành cung
Quạnh hiu thương cảnh hành cung,
Trước cung, hoa thắm mấy bông rầu rầu.
Trong cung bà chúa bạc đầu,
Ngồi rồi, kể chuyện khi hầu Huyền Tông.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Theo Trần Trọng San (Thơ Đường, tr. 30), thì nhà Đường có 4 thời kỳ: Sơ Đường (618-713), Thịnh Đường (713-766), Trung Đường (766-835) và Vãn Đường (836-905).
[2] Chép theo Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập II, tr. 228). Trần Trọng San (tr. 146) cho biết Nguyên Chẩn làm Thượng thư Tả thừa, và Bùi Độ làm Thượng thư Hữu thừa.
[3] Tây sương ký do nhà viết kịch đời Nguyên là Vương Thực Phủ sáng tác. Sau, danh sĩ đời Nguyễn (Việt Nam) là Lý Văn Phức (hoặc Nguyễn Lê Quang) lại chuyển thể từ kịch bản này làm thành truyện Nôm là Tây sương (Mái Tây).
[4] Vợ Nguyên Chẩn là Vi Tùng, con nhà quan, mất khi ông mới 30 tuổi, gia cảnh còn nghèo. Thương nhớ vợ, ông làm bài thơ này.

Sách tham khảo:
- Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn, Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập II), Bản dịch do Nxb Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 1993.
-Dịch Quân Tả, Văn học sử Trung Quốc (Tập I). GS. Huỳnh Minh Đức dịch từ tiếng Trung Quốc. Nhà xuất bản Trẻ, 1992.
- Nguyễn Hiến Lê, Đại cương văn học sử Trung Quốc (trọn bộ). Nhà xuất bản Trẻ, 1997.
-Lê Đức Niệm, mục từ "Nguyên Chẩn" in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Trần Trọng San, Thơ Đường. Tủ sách Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.
-Nhiều người dịch, Thơ Đường (Tập I). Nhà xuất bản Văn học, 1987.

Vi Ứng Vật, thi nhân đời Đường

Vi Ứng Vật (chữ Hán: 韋應物, 737-792 hoặc 793), là nhà thơ Trung Quốc đời Đường.

Ông là người Trường An (nay là Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây). Đời Đường Huyền Tông (ở ngôi: 712-756), ông được bổ làm chức Tam vệ lang, được ra vào cung cấm. Sau ông thi đỗ Tiến sĩ, được cử làm Thứ sử Trừ Châu, Giang Châu, rồi Tô Châu; được dân chúng rất mến phục.

Năm 792 hoặc 793, đời Đường Đức Tông (ở ngôi: 780-805), Vi Ứng Vật mất, lúc ấy ông khoảng 55 tuổi.

*
Sinh thời, tính ông chuộng nghĩa hiệp, có lúc cuồng phóng, nhưng cũng rất cao khiết, mỗi lần đi đến đâu, ông cũng cho quét sạch đất, đốt hương rồi mới ngồi. Ông không thích giao du rộng, bạn thơ chỉ có Lưu Trường Khanh, Cố Huống, Thích Hiệu Nhiên; và ông thường ví mình với Đào Tiềm. Theo học giả Nguyễn Hiến Lê, thì Vi Ứng Vật thuộc phái "tự nhiên" [1] trong lịch sử thi ca đời Đường.

Thi tập của ông (đều lấy tên là Giang Châu hoặc Tô Châu) gồm 10 quyển, hiện còn lưu truyền.

Vi Ứng Vật có cuộc sống khá khác thường, lúc đầu thì buông thả, về sau lại nhúng nhường, ham đọc sách, rồi trở thành một viên quan thanh liêm, hiểu thấu nỗi cực khổ của dân. Hai lối sống cực đoan đó đã ảnh hưởng tới tính phức tạp trong tư tưởng và nghệ thuật thơ ca của ông.

Nhìn chung trong toàn bộ tác phẩm của ông, thơ tả tâm tình nhàn hạ của kẻ ẩn sĩ chiếm phần lớn, như các bài: "Ký Toàn Tiêu sơn trung đạo sĩ" (Thư gửi đạo sĩ ở trong núi Toàn Tiêu), "Đông giao" (Ngoài thành phía đông), "Đáp Lý Cán" (Trả lời Lý Cán), "Hiệu Đào Bành Trạch" (Bắt chước Đào Bành Trạch), "U cư" (Ở ẩn),...

Một số khác tuy ít hơn, nhưng cũng có nhiều bài hay. Thơ cảm khái của ông cũng có nhiều bài được khen là "chứa chan lòng ưu thời mẫn thế" [3], như các bài: "Đăng cao vọng Lạc thành tác" (Làm lúc lên cao ngắm thành Lạc), "Đăng Trùng Huyền tự các" (Lên gác chùa Trùng Huyền), "Nghĩ cổ thi thập nhị thủ" (Mười hai bài nghĩ cổ),...

Bên cạnh đó, ông cũng có một số bài tỏ rõ sự căm giận đối với giai cấp thống trị, đồng thời cảm thông sâu sắc với người lao động, như các bài "Quảng Đức trung Lạc Dương tác" (Cảm khái khi đang làm quan ở Lạc Dương dưới thời Quảng Đức), "Đáp Thôi Đô thủy" (Đáp Đô thủy họ Thôi), "Tạp thể ngũ thủ" (Năm bài tạp thể),...

Về mặt miêu tả, rải rác trong thơ ông có nhiều bức tranh "rất đẹp và tinh tế", có thể tìm thấy điều đó trong các bài như: "Trừ Châu Tây giản" (Khe suối ở phía Tây Trừ Châu), "Phú đắc mộ tống Lý Tào" (Phú Đắc: buổi chiều mưa tiễn chân Lý Tào), "Đông giao" (Ngoài thành phía đông), "Trường An ngộ Phùng Trứ" (Gặp Phùng Trứ ở Trường An), "Tịch thứ Vu Di huyện" (Đêm nghỉ ở huyện Vu Di),...

Ngoài ra, mảng thơ của ông viết về bạn bè và người quen cũng rất được chú ý vì chúng rất thắm thiết và chân tình; như các bài: "Hoài thượng hỷ hội Lương Xuyên cố nhân" (Trên sông Hoài mừng gặp bạn cũ đất Lương Xuyên), "Ký Lý Đảm, Nguyên Tích" (Gửi Lý Đảm và Nguyên Tích), "Sơ phát Dương Tử ký Nguyên Đại hiệu thư" (Từ bến sông Dương Tử, gửi quan hiệu thư Nguyên Đại), "Tống Phần Thành Vương chủ bạ" (Tiễn quan chủ bạ họ Vương ở Phần Thành), "Thu dạ ký Khâu viên ngoại" (Đêm thu gửi Khâu viên ngoại),v.v...

Về nghệ thuật, thơ của ông rất giống thơ Đào Tiềm, được Bạch Cư Dị, Tô Thức khen lắm (nhất là thơ ngũ ngôn) [8]; và được giới nghiên cứu đánh giá là có phong cách giản dị, đẹp đẽ ("chân mà không mộc mạc, đẹp mà không hoa lệ").

Giới thiệu hai trong số bài thơ tiêu biểu của Vi Ứng Vật.

1. Ký Toàn Tiêu sơn trung đạo sĩ
Kim triêu quận trạch lãnh,
Hốt niệm sơn trung khách.
Giản để thúc kinh tân,
Quy lai chử bạch thạch.
Dục trì nhất biều tửu,
Viễn uỷ phong vũ tịch.
Lạc diệp mãn không sơn,
Hà xứ tầm hành tích?

Vô danh dịch:
Thư gửi đạo sĩ ở trong núi Toàn Tiêu
Sáng nay nha quận vắng,
Chợt nhớ khách trong non.
Kiếm củi ngoài bên lạch,
Về nhà đá nấu cơm.
Muốn đem một bầu rượu,
An ủi đêm gió mưa.
Lá rụng đầy đường núi,
Dấu đi đã lờ mờ.


2. U cư
Quý tiện tuy dị đẳng,
Xuất môn giai hữu doanh.
Độc vô ngoại vật khiên,
Toại thử u cư tình.
Vi vũ dạ lai quá,
Bất tri xuân thảo sinh.
Thanh sơn hốt dĩ thự,
Điểu tước nhiễu xá minh.
Thì dữ đạo nhân ngẫu,
Hoặc tùy tiều giả hành.
Tự đương an kiển liệt,
Thùy vị bạc thế vinh.


Hải Đà dịch:
Sang hèn tuy khác bậc,
Ra đường phải tranh nhau.
Riêng ta không ràng buộc,
Sống chẳng phải lo âu.
Mưa phùn đêm rơi nhẹ,
Cỏ mọc nào biết đâu.
Núi xanh trời rạng sáng,
Chim ríu rít nhà sau.
Thiền sư đôi khi gặp,
Tiều phu dạo cùng nhau.
Thua kém mình yên phận,
Phú quí chẳng bền lâu.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.

Chú thích:
[1] Phái "tự nhiên" chủ trương trái hẳn với phái "xã hội". Các thành viên của phái này cho rằng không còn cách nào cải tạo được thời thế, nên chán đời, muốn ở ẩn. Họ chịu ảnh hưởng phong khí của Đào Tiềm và Tạ Linh Vận, chịu ảnh hưởng của Phật và Lão, nên ưa ca tụng thú nhàn tản cũng cảnh đẹp của tạo hóa. Đại biểu cho phái “tự nhiên”, ngoài Vi Ứng Vật, còn có Mạnh Hạo Nhiên, Liễu Tông Nguyên và Vương Duy (theo Nguyễn Hiến Lê, tr.443 và 455).

Sách tham khảo:
- Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn, Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập II), Bản dịch do Nxb Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 1993.
-Dịch Quân Tả, Văn học sử Trung Quốc (Tập I). GS. Huỳnh Minh Đức dịch từ tiếng Trung Quốc. Nhà xuất bản Trẻ, 1992.
-Trần Trọng Kim, Đường thi. Nhà xuất bản Tân Việt, 1974.
-Nguyễn Hiến Lê, Đại cương văn học sử Trung Quốc (trọn bộ). Nhà xuất bản Trẻ, 1997.
-Trần Lê Bảo, mục từ "Vi Ứng Vật" in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Liễu Vĩnh, một từ gia thời Bắc Tống

Liễu Vĩnh (chữ Hán: 柳永, 1004-1054) [1], trước có tên là Tam Biến [2], tự: Kỳ Khanh; là quan nhà Bắc Tống, và là nhà làm từ (từ gia) nổi tiếng ở Trung Quốc.

1. Tiểu sử:
Liễu Vĩnh là người Sùng An, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại theo Nho học mấy đời, tuổi trẻ từng sống và học tập ở kinh thành Khai Phong, từng đi thi nhiều lần nhưng đều hỏng, về già mới đỗ Tiến sĩ.

Sau đó, ông lần lượt làm mấy chức quan nhỏ: Triện quan ở Mục Châu, Diêm quan ở Định Hải, Hiểu phong; và làm Viên ngoại lang coi việc đồn điền. Trong các nhà làm từ nổi tiếng thời Bắc Tống, ông là người giữ chức quan nhỏ nhất; nhưng lại là nhà làm từ chuyên nghiệp đầu tiên, cả đời dốc sức vào việc sáng tác từ.

Năm 1054 đời Tống Nhân Tông, Liễu Vĩnh mất lúc 50 tuổi. Tương truyền, khi đó các kỹ nữ đã góp tiền để chôn cất ông, và còn làm lễ truy điệu [3].

Hiện còn quyển Nhạc chương tập (Tập sách ghi các chương nhạc), có gần 200 bài từ của ông.

2. Sự nghiệp văn chương:
Nội dung chủ yếu của từ Liễu Vĩnh là phản ánh tâm trạng buồn bực, bất mãn của đại bộ phận trí thức (trong đó có ông), có tài nhưng không gặp cơ hội trong xã hội phong kiến, hoạn lộ trắc trở, nên đi đến chỗ lạnh nhạt với công danh lợi lộc. Có thể thấy những điều đó trong các bài từ làm theo điệu "Phụng quy vân", "Quy triều quan", "Khán hoa", "Bát thanh Cam Châu", "Vũ lâm linh",...

Ở khía cạnh khác, mặc dù xuất thân trong một gia đình quan lại theo Nho học mấy đời, nhưng Liễu Vĩnh từng "nhiều phen du ngoạn cùng hiệp khách", "thích làm các khúc ca trong hoa dưới nguyệt" ở chốn lầu hồng, như những bài từ làm theo điệu "Hạc xung thiên", "Trường thọ lạc", "Mê tiên dẫn",.... Ở đấy, trên quan điểm của một văn nhân bất đắc chí, ông mô tả cuộc sống của các kỹ nữ, và bày tỏ sự cảm thông với họ. Thành thử, ông làm cho từ có nội dung xã hội nhiều hơn.

Đồng thời, Liễu Vĩnh còn làm khá nhiều bài tả cảnh phồn hoa của thị thành (Khai Phong, Hàng Châu, Tô Châu,...), như những bài từ làm theo điệu "Vọng hải triều".

Ngoài ra, lúc làm Diêm quan ở Định Hải, ông có làm bài thơ "Chử hải ca" (Bài ca nấu muối biển) rất đáng chú ý. Đây là một tác phẩm hiện thực ưu tú, giàu cảm xúc, tả cảnh khổ phơi lọc muối và cuộc sống nghèo cực của những người dân làm muối, đồng thời tố cáo giới quan lại địa chủ đã bốc lột họ.

Về nghệ thuật, nhờ học tập và tiếp thu kinh nghiệm sáng tác của các nhạc khúc dân gian thời đầu Tống và của một số tác giả thời Trung Đường; mà Liễu Vĩnh đã có nhiều sáng tạo: hoặc theo điệu cũ điền lời mới, hoặc tự sáng sáng tạo ra điệu mới; và làm cho ngôn ngữ từ thêm rõ ràng, bình dị vì đã được ông thông tục hóa và khẩu ngữ hóa...

Thứ nữa, ông còn là người đầu tiên làm nhiều “mạn từ” (tức bài từ dài, trong Nhạc chương tập, “mạn từ” chiếm đến bảy tám phần mười), và làm cho nó trở thành một hình thức văn học thuần thục.

Ngoài ra, ông còn là người đã đem tình và cảnh lồng vào nhau, điều mà từ khúc dân gian đời Đường chưa có. Nhờ vậy, từ dân gian có một bước đổi thay khá rõ.

Trong số các nhà làm từ thời Bắc Tống, từ của Liễu Vĩnh được truyền bá rộng rãi [4], và được nhiều thế hệ sau thừa kế, phát huy. Ông là một nhà văn có ảnh hưởng xã hội tương đối lớn.

3. Giới thiệu từ:
Từ của Liễu Vĩnh có nhiều bài hay, nhưng thường dài, nên ở đây chỉ có thể giới thiệu một bài từ làm theo điệu "Bát thanh Cam Châu", và bài thơ thất ngôn cổ phong "Chử hải ca".

1. Bát thanh Cam Châu
Phiên âm:

Đối tiêu tiêu vũ sái giang thiên,
Nhất phiên tẩy thanh thu,
Tiệm sương phong thê khẩn,
Quan hà lãnh lạc,
Tàn chiếu đương lâu.
Thị xứ hồng suy lục giảm,
Nhiễm nhiễm vật hoa hưu.
Duy hữu Trường Giang thuỷ,
Vô ngữ đông lưu.

Bất nhẫn đăng cao lâm viễn,
Vọng cố hương diểu mạc,
Quy tứ nan thu.
Thán niên lai tung tích,
Hà sự khổ yêm lưu!
Tưởng giai nhân, trang lâu trường vọng,
Ngộ kỷ hồi, thiên tế thức quy chu?
Tranh tri ngã, ỷ lan can xứ,
Chính nhẫm ngưng sầu.

Dịch nghĩa:
Trước cảnh mưa chiều sầm sập dội xuống dòng sông mênh mông,
Một phen gột rửa trời thu trong vắt.
Dần dần sương gió lạnh rít,
Núi sông tẻ ngắt,
Bóng tà dương chiếu thẳng trước lầu.
Nơi đó hồng phai thắm nhạt,
Cảnh vật suy tàn.
Chỉ có nước sông Trường giang,
Vẫn vẫn lặng lẽ chảy về đông.

Không nỡ lên cao nhìn xa,
Trông vời quê hương mờ mịt,
Nỗi nhớ nhung không ngăn được.
Than thở nỗi phiêu bạt bao năm,
Việc gì cứ phải nấn ná ở lại cho khổ?
Nghĩ rằng người đẹp trên lầu đang đứng ngóng,
Đã bao lần trông chân trời lầm tưởng thuyền về!
Đâu biết ta cũng đang đứng tựa lan can,
Đăm đăm sầu nhớ .

2. Chử hải ca
Chử hải chi dân hà sở dinh,
Phụ vô tàm chức phu vô canh.
Y thực chi nguyên thái liêu lạc,
Lao bồn chử tựu nhữ luân chinh.
Niên niên xuân hạ triều doanh phố,
Triều thoái quát nê thành đảo tự.
Phong can nhật bộc hàm vị gia,
Thuỷ quán triều ba lưu thành lỗ.
Lỗ nùng kiềm đạm vị đắc nhàn,
Thái tiều thâm nhập vô cùng sơn.
Báo tung hổ tích bất cảm tỵ,
Triêu dương sơn khứ tịch dương hoàn.
Thuyền tải kiên kình vị hoàng yết,
Đầu nhập cự táo viêm viêm nhiệt.
Thần thiêu mộ thước đồi tích cao,
Tài đắc ba đào biến thành tuyết.
Tự tòng chư lỗ chí phi sương,
Vô phi giá thải sung hầu lương.
Xưng nhập quan trung đắc vi trực,
Nhất mân vãng vãng thập mân thường.
Chu nhi phục thuỷ vô hưu tức,
Quan tô vị liễu tư tô bức.
Khu thê trục tử khoá công trình,
Tuy tác nhân hình câu thái sắc.
Chúc hải chi dân hà khổ môn,
An đắc mẫu phú tử bất bần.
Bản triều nhất vật bất thất sở,
Nguyện quảng hoàng nhân đáo hải tân.
Giáp binh tịnh tẩy chinh luân chuyết,
Quân hữu dư tài bãi diêm thiết.
Thái bình tương nghiệp nhĩ duy diêm,
Hoá tác Hạ Thương Chu thời tiết.

Hoàng Tạo dịch:
Bài ca nấu muối biển
Dân nấu muối biển sống sao đây?
Vợ không canh cửi chồng không cày.
Nguồn sống áo cơm thật buồn tẻ,
Nấu xong thùng muối là thuế ngay.
Hàng năm xuân hạ triều ngập bãi,
Triều xuống gom bùn thành đông núi,
Gió hong nắng dãi muối thêm nồng.
Lọc qua nước triều thành đất muối,
Đất nồng muối nhạt đã xong đâu.
Kiếm củi xông vào tận núi sâu,
Vết hổ dấu beo nào dám quản.
Sáng sớm ra đi về đã chiều,
Thuyền chở vai gánh bao mải miết.
Quẳng cả vào lò cháy bằng hết,
Suốt ngày nung nấu từng đống cao.
Biến sóng biển xanh thành đụn tuyết,
Từ vũng bùn đen đến trắng ngần.
Đều là vay mượn lấy lương ăn,
Cân nạp cho quan giá rẻ mạt.
Một quan vay lãi hoá mười quan,
Quanh đi quẩn lại không hề ngớt.
Thuế quan chưa xong thuế tư bắt,
Xua con đuổi vợ đi làm thuê.
Tuy có hình người mặt xanh ngắt,
Đời dân nấu muối, ôi cay chua,
Ước gì mẹ giàu con cũng no.
Ơn trên mọi vật yên nơi chốn,
Bến biển xa này thấu đến cho.
Gươm giáo rửa cất, thuế khoá bãi,
Bỏ thuế muối sắt, của thừa thãi.
Thái bình ông tướng giỏi điều canh,
Hãy làm sống lại đời Tam đại.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu
Chú thích:
[1] Ghi theo Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập 2, tr. 401). Từ điển văn học (bộ mới, tr. 857) chép là: 987?-1053?.
[2] Chép theo Từ điển văn học (bộ mới, tr. 857). Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập 2, tr. 401) cho biết trước khi có tên Liễu Vĩnh, ông đã đổi tên ba lần, nhưng sách không kể ra.
[3] Theo Từ điển văn học (bộ mới, tr. 858). Sách Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập 2, tr. 404) kể tương tự, và viết thêm rằng: "Đây chỉ là lời đồn, tuy không có gì chắc chắn, nhưng cũng đã nói lên mối quan hệ mật thiết giữa Liễu Vĩnh với các kỹ nữ thời bấy giờ" .
[4] Sách Hậu Sơn thi thoại nói từ Liễu Vĩnh lúc bấy giờ “khắp thiên hạ ngâm nga”, sách Năng cải trai mạn lục nói từ của ông từng được “truyền bá khắp bốn phương”, Diệp Mộng Đắc trong Tị thử lục thoại cũng chép rằng cả ở Tây Hạ “phàm những nơi có giếng nước đều ca hát từ của Liễu Vĩnh”, thiên "Nhạc chí" trong sách Cao Ly sử cũng cho biết rằng "đương thời người học tập ông hoặc chịu ảnh hưởng của ông lại càng nhiều" (theo Lịch sử văn học Trung Quốc, Tập 2, tr. 408).

Sách tham khảo:
-Trần Lê Bảo, mục từ “Liễu Vĩnh” in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn, Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập II), Bản dịch do Nxb Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 1993.
-Nguyễn Hiến Lê, Đại cương văn học Trung Quốc. Nhà xuất bản Trẻ, 1997.
- Nhiều người dịch, Thơ Tống (Trương Chính giới thiệu, Nam Trân duyệt thơ). Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1991.

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

Hoàng Đức Lương, nhà thơ Việt Nam thời Hậu Lê

Hoàng Đức Lương (? - ?) là văn thần và là nhà thơ Việt Nam thời Hậu Lê. Ông là người biên soạn bộ "Trích diễm thi tập" có tiếng trong lịch sử thơ ca Việt Nam.

1. Tiểu sử:
Ông là người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên; sau dời về ở làng Ngọ Kiều, huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc; nay thuộc ngoại thành Hà Nội.

Không rõ thân thế, chỉ biết ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất (1478) dưới triều vua Lê Thánh Tông, được bổ chức quan, làm đến Tham nghị.

Năm 1489 [1], ông được cử làm Phó sứ sang Trung Quốc giao thiệp với nhà Minh; trở về được thăng Tả thị lang bộ Hộ.

Hoàng Đức Lương mất năm nào không rõ.

2. Tác phẩm:
Ngoài sáng tác của ông, hiện còn 25 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục và Hoàng Việt thi tuyển; ông còn biên soạn bộ Trích diễm thi tập (Tập thơ tuyển chọn những bài thơ đẹp), gồm 15 quyển (theo Lê Quý Đôn, nhưng hiện chỉ còn 6 quyển). Đây là tập hợp tuyển thơ của các nhà thơ có tiếng đời Trần và các danh gia đời Lê sơ.

Nhìn chung, thơ của ông khá thâm trầm, ý nhị, đẹp một cách kín đáo và giản dị. Nhưng để có những câu tưởng chừng đạm nhã và thoát sáo đó, ngòi bút của tác giả đã phải dụng công rất nhiều (Tự trào).

3. Giới thiệu thơ:
Dưới đây là bốn bài thơ của ông:

1. Tự trào
Tính tích thù kham tiếu,
Ngâm đa diệc bất công.
Dạ thâm tài đắc cú,
Mãnh khỉ cấp hô đồng.
Dịch nghĩa:
Tự cười minh
Buồn cười cho tính ngông của mình,
Cứ ngâm nga nhiều mà thơ chẳng hay.
Có lúc đêm khuya nghĩ được một câu,
Đã vùng dậy gọi vội tiểu đồng.

2. Thôn cư
Tang ám tằm chính miên,
Thiềm đê yến sơ nhũ.
Lực quyện hạ sừ qui,
Trú vĩnh cưu thanh ngọ.
Dịch nghĩa:
Ở làng quê
Dâu xanh tốt chính là lúc tằm ngủ,
Ngoài hiên thấp, chim én đang nớm cho con.
Mệt mỏi, thì vác cuốc về nghỉ,
Ngày dài, chim cưu kêu lúc bóng tròn.

3. Hoàng Đường hạ bạc
Giang thượng cô chu khách dạ trì,
Nhất ban tâm sự thiểu nhân tri.
Vô đoan thụy khởi bằng cao chẩm,
Nguyệt đạm phong khinh tế tế xuy.
Dịch nghĩa:
Bến sông Hoàng [2] ban đêm
Chiếc thuyền lẻ loi trên sông, đêm đất khách qua chậm,
Bầu tâm sự của khách ít người thấu hiểu.
Bổng dưng thức giấc ngồi tựa gối cao,
Bên ngoài, trăng mờ gió nhè nhẹ thổi.
4. Thu hạ quan thư
Khai quyển thâm âm hạ,
Dung quang chiếu tự minh.
Tĩnh trung tâm dị động,
Lạc diệp tác thu thanh.
Dịch nghĩa:
Đọc sách dưới bóng cây
Ngồi đọc sách dưới bóng cây,
Ánh sáng le lói, dung mạo cũng tươi tắn.
Cảnh thanh tĩnh, lòng dễ xao động,
Lá rụng làm thành tiếng thu.

4. Giới thiệu "Trích diễm thi tập":
Theo Lê Quý Đôn (Kiến văn tiểu lục, Thiên chương, Q.4, tờ 12-13) và Bùi Huy Bích (Lời tiểu dẫn trong Hoàng Việt thi tuyển), thì đây là bộ thi tuyển thứ ba; sau các bộ Việt âm thi tập của Phan Phu Tiên, Cổ kim thi gia tinh tuyển của Dương Đức Nhan, và trước bộ Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn.

Căn cứ bài Tựa của soạn giả là Trần Đức Lương viết năm 1497, thì bộ Trích diễm thi tập chắc đã hoàn thành trong khoảng thời gian ấy.

Cũng theo Lê Quý Đôn, bộ hợp tuyển này gồm 15 quyển, tuyển chọn thơ của các nhà thơ có tiếng đời Trần (từ Nguyễn Trung Ngạn) đến đầu đời Lê (đến Đàm Văn Lễ, cuối sách có phụ thêm một số bài thơ của người soạn là Trần Đức Lương); nhưng đến thời ông chỉ "còn lại chưa đầy một nửa". Sau thế kỷ 18, phần còn lại đó cũng bị thất lạc một thời gian dài, mãi gần đây mới tìm lại được.

Văn bản mới tìm ra này gồm 6 quyển, có nguyên vẹn bài Tựa của soạn giả viết vào năm Hồng Đức thứ 28 (1497), và phần thơ ngũ tuyệt và thất tuyệt; nhưng thiếu hẳn phần thơ ngũ ngôn bát cú và thất ngôn bát cú. Đối chiếu với những bài thơ Lê Quý Đôn đã chép lại trong Toàn Việt thi lục, có thể khẳng định bản Trích diễm thi tập hiện nay cũng gần giống với bản đã “sứt mẻ” mà Lê Quý Đôn đã có.

Dụng ý làm ra bộ Trích diễm thi tập đã được Hoàng Đức Lương nói rõ trong bài Tựa của ông. Đó là biểu hiện của tấm lòng trân trọng đối với di sản tinh thần của quá khứ, là một việc làm cụ thể nhằm bổ cứu cho tình trạng mất mát đáng tiếc trong lịch sử văn học Việt Nam trước thế kỷ 15; và đó cũng chính là ý thức muốn góp phần vào việc xây đắp truyền thống văn hóa văn nghệ lâu đời của dân tộc Việt, nhằm nâng cao thêm uy tín và địa vị tự chủ của nước nhà.

Trong khi định nghĩa và đánh giá thơ, Hoàng Đức Lương đã xác định đặc trưng của thơ là "đẹp". Cái "đẹp" này khác hẳn về chất so với mọi cái đẹp vât chất và tinh thần khác. Nên khi soạn bộ Trích diễm thi tập, ông không lấy tiêu chuẩn "vua, quan, dân thường" làm thứ tự ưu tiên, mà chỉ lấy thơ hay làm tiêu chuẩn, và sắp xếp theo thể loại.

Mặc dù chưa tìm được trọn bộ, nhưng bản Trích diễm thi tập gồm 6 tập, vẫn là "bộ sách rất quý, bởi nó đã bổ sung được một số bài thơ và một số nhà thơ mà hai bộ thi tuyển trước đó (Việt âm thi tập và Cổ kim thi gia tinh tuyển) đã bỏ sót hoặc vì lý do nào đó đã không tuyển chọn vào".


Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.

Chú thích:
[1] Chép theo Từ điển văn học (bộ mới. tr. 613) và Văn học thế kỷ XV-XVII (tr. 499). Tuy nhiên tra trong Đại Việt sử ký toàn thư (Quyển II, bản dịch do NXB Khoa học xã hôi ấn hành 1985, tr. 507), thì rất thể Hoàng Đức Lương đi trong đoàn sứ bộ của Đàm Văn Lễ vào năm Hồng Đức thứ 19 (1488).
[2] Bến sông Hoàng tức là bến đò trên bờ Hoàng Giang, một khúc sông xưa kia chảy qua Gia Lâm đổ vào Nhị Hà (sông Hồng), nhưng nay đã lấp.

Sách tham khảo:
-Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007.
-Nguyễn Huệ Chi, mục từ “Hoàng Đức Lương” in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003.
-Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), Văn học thế kỷ XV-XVII, mục từ: " Hoàng Đức Lương ". Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2004.
-Nguyễn Q. Thắng- Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, mục từ: " Hoàng Đức Lương". Nhà xuất bản Khoa học, 1992.