Hình ảnh
Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012
Chùa Từ Ân
Chùa Từ Ân còn có tên là Sắc Tứ Từ Ân Tự, được xây dựng vào thế kỷ 18 ở khu vực Chợ Đũi [1], mà vị trí nằm trong Công viên Tao Đàn, thuộc quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam) ngày nay [2]. Khi quân Pháp đánh chiếm Gia Định, chùa Từ Ân thì bị đốt cháy. Về sau (1870), một ngôi chùa Từ Ân mới lại được dựng lên ở Phú Lâm (thuộc quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) để tiếp nối dòng đạo, đồng thời gìn giữ những hiện vật còn sót lại của ngôi chùa cũ.
1. Lịch sử
Vào khoảng năm Giáp Ngọ (1744), Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc (1725-1821, là người đem chi phái Lâm Tế dòng đạo Bổn Nguyên vào miền Nam Việt Nam trước tiên), vâng lời thầy theo lớp người lưu dân từ Đồng Nai xuống phía Nam. Trên đường đi, nhà sư gặp một tăng sĩ không rõ họ tên, cùng lứa tuổi và họ đã kết thành huynh đệ. Đến nơi ở mới là làng Tân Lộc (có tư liệu viết là làng Hoạt Lộc hay xóm Chợ Đũi), hai nhà sư cùng khai phá rừng và dựng lên am lá (khoảng năm 1744) thờ Phật. Vài năm sau, nhà sư vô danh kia tách ra lập am riêng, cách am cũ vài mươi mét, để tiện việc tu hành.
Đến năm Nhâm Thân (1752), Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc tu bổ am lá thành chùa, và đặt tên là chùa Từ Ân, với ngụ ý là "nhờ lòng từ bi và ân huệ của đức Phật mà bá tánh được bình an, tạo được cuộc sống ấm no và hạnh phúc nơi vùng đất mới". Cũng khoảng thời gian đó, nhà sư vô danh cũng tu bổ am lá trước đây thành chùa, và đặt tên là chùa Khải Tường, với ngụ ý là "mở rộng phước lành cho bá tánh". Vì thế khi thực dân Pháp tiến chiếm Gia Định, họ gọi chùa Khải Tường là chùa Trước (pagode Avancée) còn chùa Từ Ân là chùa Sau [3].
Theo “Đại Nam nhất thống chí” của triều Nguyễn, thì lúc bấy giờ “chùa Từ Ân ở thôn Hòa Hưng, huyện Bình Dương, nhà chùa tráng lệ, cảnh trí u nhã”...[4].
Sau một thời gian hoằng hóa, vị sư trụ trì ở chùa Khải Tường viên tịch, thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc trụ trì luôn cả hai chùa. Do tài đức của thiền sư, mà hai tự viện trở nên có tiếng ở vùng Gia Định.
Trong giai đoạn chiến tranh giữa Tây Sơn với chúa Nguyễn Phúc Ánh, cả hai chùa từng là nơi ở của vị chúa này và đoàn tùy tùng (chùa Từ Ân là nơi dành cho chúa và quan quân, còn chùa Khải Tường là nơi dành cho các phi tần)[8]. Về sau nhớ ơn cũ, năm 1822 [5], vua Minh Mạng đã sắc phong chùa Từ Ân là “Sắc Tứ Từ Ân Tự”.
Năm Tân Tỵ (1821), Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc viên tịch tại chùa Từ Ân, sau đó di cốt được đưa vào tháp trong khuôn viên chùa. Nghe tin sư huynh của mình là Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc mất, Thiền sư Thiệt Thành-Liễu Đạt (khi ấy đã là Tăng cang chùa Thiên Mụ ở Huế từ năm 1817), vội vàng xin vua từ nhiệm để trở về làm trụ trì Từ Ân, tức ngôi chùa cũ của mình. Năm 1823, Thiền sư Thiệt Thành-Liễu Đạt tự thiêu vì không muốn sợi dây tình ái trói buộc với một vị Hoàng cô (chị vua Gia Long, pháp danh là Tế Minh-Thiên Nhật), vốn là một cư sĩ đã từng học đạo với sư.
Tiếp nối, Thiền sư Tế Chánh-Bổn Giác lên thay thầy làm trụ trì, sau đó là Thiền sư Tế Tín-Chánh Trực. Trong thời vị sư này làm trụ trì, chùa Từ Ân và chùa Khải Tường đều lâm nạn binh đao bởi quân Pháp đến đánh chiếm. Theo tài liệu thì chùa Khải Tường bị quân Pháp chiếm làm đồn; còn chùa Từ Ân thì bị đốt cháy sau khi các nhà sư ở đây rút chạy và chỉ kịp đem cất giấu một số món đồ, nhờ vậy mà chùa Từ Ân ở gần chợ Gạo (Phú Lâm) ngày nay còn được một số hiện vật kỷ niệm.
2. Chùa Từ Ân mới (sơ lược)
Trải bao thăng trầm của lịch sử, năm Canh Ngọ (1870), một ngôi chùa Từ Ân mới đã được dựng lên ở Phú Lâm (thuộc quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) để tiếp nối dòng đạo, đồng thời gìn giữ những hiện vật còn sót lại của ngôi chùa cũ. Hiện còn khá nhiều bức hoành và câu đối từ các nơi đem đến hiến cúng nhân ngày lạc thành chùa đã minh chứng cho điều ấy. Lúc bấy giờ, là thời của Hòa thượng Như Bằng-Thanh Ấn làm trụ trì.
Mặc dù chùa Từ Ân mới có kiến trúc khá khiêm tốn so với trước đây, nhưng bên trong hiện vẫn còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật quý, đó là:
-Hai bức hoành phi chạm gỗ, sơn son thiếp vàng: một đề là “Sắc Tứ Từ Ân Tự” và hai đề là “Quốc Ân Khải Tường Tự” (được đem về đây sau khi cả hai ngôi chùa đều bị nạn đao binh dưới thời Pháp thuộc).
-Các bài vị chạm khắc gỗ của các vị Tổ sư, trong số ấy, có cả những bài vị dành cho các vị Tổ khai sáng dòng đạo Bổn Nguyên từ Trung Quốc truyền sang. Đặc biệt, ở đây còn có bài vị của Hoàng cô bên bài vị của Thiền sư Thiệt Thành-Liễu Đạt.
-Hàng trăm quyển kinh, luật, luận bằng chữ Hán và chữ Nôm của các thế kỷ trước. Trong số kho tàng đó, qúi giá nhất là bộ sách Ngũ gia tông phái ký toàn tập do Tăng cang chùa Thiên Mụ là Tiên Giác-Hải Tịnh chứng minh vào năm 1875. Đây là bộ sách (gồm 3 quyển) đầu tiên đề cập đến Phật giáo ở Gia Định và Nam Bộ.
Ngoài ra, ở đây còn có khá nhiều bức hoành phi và câu đối của các chùa từ nhiều nơi dâng tặng nhân ngày lạc thành chùa (1870), v.v...
Cống hiến
Vào giai đoạn đầu của cuộc khai phá vùng đất Gia Định, chùa Từ Ân (và chùa Khải Tường) đã góp phần mang lại sự ổn định và phát triển tín ngưỡng Phật giáo tại vùng đất mới, qua sự có mặt khá sớm và gần như tiêu biểu nhất của mình tại vùng đất này.
Và cũng từ ngôi chùa này, các nhà sư đã đem Phật pháp đi hoằng hóa khắp các nơi, như Đồng Nai, Tây Ninh, Thuận Hóa, lục tỉnh,...Nên không lạ gì vào những năm dưới triều vua Gia Long và Minh Mạng, nhiều vị thiền sư ở đây đã được mời ra kinh đô, được vào cung giảng đạo, được phong chức Tăng cang, được giao trụ trì chùa Thiên Mụ, chùa Giác Hoàng...ở Huế. Có thể kể đến mấy vị như: Thiệt Thành-Liễu Đạt (sau làm Tăng cang chùa Thiên Mụ), Tổ Đạt-Trí Thâm (sau làm trụ trì chùa Khải Tường), Tổ Ấn-Mật Hoằng (sau làm trụ trì chùa Đại Giác ở Đồng Nai), Tổ Tông-Viên Quang (sau làm trụ trì chùa Giác Lâm), Tiên Giác-Hải Tịnh (sau làm Tăng cang chùa Thiên Mụ), v.v...Tất cả cho thấy chùa Từ Ân quả là một “cái nôi”, là một “trung tâm Phật giáo” ở Gia Định và của lục tỉnh vào buổi ấy....
Trùng tên
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, còn có một ngôi chùa Từ Ân khác, tọa lạc ở số 28-30 đường Hùng Vương, quận 11. Ngôi chùa này được xây dựng vào năm 1957, sau đó Hòa thượng Hoằng Tu đã cho trùng tu và mở rộng vào năm 1967 và những năm gần đây. Đây là ngôi chùa Phật giáo của người Hoa, thuộc dòng Tào Động, không phải là ngôi cổ tự đã nói trong bài.
Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu
Chú thích
1.^ Chợ Đũi trước ở tại phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; sau dời về góc đường Cách Mạng Tháng Tám và Võ Văn Tần, quận 3. "Đũi" ở đây là thứ hàng dệt bằng tơ gốc, mặt hàng thô. Viết "Đuổi" là viết sai.
2.^ Vị trí chùa Khải Tường và chùa Từ Ân đã được M. Carmouze vẽ ngày 20 tháng 1 năm 1873, và bản đồ của M. Lambley vẽ ngày 28 tháng 10 năm 1931, cho phép kết luận rằng: "chùa Khải Tường ở đường Võ Văn Tần (nay là Bảo tàng Chứng tích chiến tranh) và chùa Từ Ân ở khu vực nêu trên" (theo PTS. Trần Hồng Liên, Hội thảo, tr.107).
3.^ Kể theo Thiền sư Việt Nam, tr. 469. Trong sách “Hội thảo”, có ít nhất 4 tác giả đều cho rằng: “Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc chính là người lập ra chùa Từ Ân”, đó là PTS. Trần Hồng Liên (tr. 107), Thiền Hòa tử Huệ Chí (tr. 59), Nguyễn Quảng Tuân (tr. 114), Thích Thiện NHơn (tr.242). Trong Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức (tr. 268) cũng cho biết như vậy. Tuy nhiên, theo bài viết "Những ngôi cổ tự đã biến mất", thì chùa Khải Tường do Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc khai sơn khoảng năm Giáp Ngọ 1744, còn chùa Từ Ân do một nhà sư vô danh tạo lập vào khoảng năm Nhâm Thìn (1752). Thông tin liên quan: theo sách Đại Nam nhất thống chí (phần Lục tỉnh Nam Việt) của triều Nguyễn, thì chùa Từ Ân được dựng vào năm Gia Long nguyên niên (1802). Tương tự, trong Đại Nam thực lục (chính biên, đệ nhị kỷ) cũng ghi đại để là chùa Khải Tường được nhà vua Minh Mạng sai dựng vào năm Nhâm Thìn (1832). Trần Hồng Liên giải thích “có lẽ do sử thần nhầm lẫn giữa việc lập chùa và trùng tu chùa mà ra” (Hội thảo, tr. 108).
4.^ Đại Nam nhất thống chí (phần "Lục tỉnh Nam Việt"). Nguyễn Tạo dịch, tập Thượng, Sài Gòn, 1973, tr. 95.
5.Phần lạc khoản trên bức hoành phi “Sắc tứ Từ Ân tự” (hiện còn ở chùa Từ Ân ở số 23 đường Tân Hóa), cũng ghi rõ rằng: “Minh Mạng tam niên, trọng xuân ngoạt, kiến nhựt (bên phải)/ Hoàng đệ Thường Tín chế tạo hiến cúng (phía trái)”.
Sách tham khảo chính
■Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam. Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí minh xuất bản năm 1992.
■Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1995.
■Võ Văn Tường, Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam, Nxb Văn hóa-Thông tin, 1994.
■Các bài viết trong sách Hội thảo khoa học 300 năm Phật giáo Gia Định-Sài gòn-TP. Hồ Chí Minh" (gọi tắt là “Hội thảo”), Nhà xuất bản TP.Hồ Chí Minh, 2002, gồm:
-Thiền Hòa tử Huệ Chí, “Buổi đầu của Phật giáo Gia Định-Sài Gòn”.
-PTS. Trần Hồng Liên,”Vai trò của chùa Từ Ân trong sự phát triển văn hóa Phật giáo Gia Định”.
-Huỳnh Ngọc Trảng, “Những ngôi cổ tự đã mất ở Gia Định xưa”.
-Nguyễn Quảng Tuân, “Kiến trúc của các ngôi chùa xưa nay”.
-Thích Thiện Nhơn, “Sự đóng góp về giáo dục Phật học của Phật giáo Gia Định-Sài Gòn- TP. HCM 300 năm”.
Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012
Chùa Kiểng Phước
Chùa Kiểng Phước (quân Pháp gọi là pagode des clochetons), trước kia là một ngôi chùa của người Hoa đã quân liên quân Pháp-Tây Ban Nha chiếm đóng làm thành đồn vào năm 1860. Theo tư liệu thì ngôi này chùa này ở tại quận 5, thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam) ngày nay, với “các cột bằng gỗ, hai cổng và tường đều bằng gạch và đã biến mất chỉ còn lại mấy cây gỗ mục trong khuôn viên chùa vào năm 1866" [1].
1. Vị trí:
Theo học giả Vương Hồng Sển, chùa Kiển Phước ở đầu đường Phù Đổng Thiên Vương (tên có trước năm 1975, thời thuộc Pháp là đường Clochetons), gần thánh đường Hồi giáo trên vùng đất cao ráo; nay là nền trường Đại học Y Dược ở số 217, Hồng Bàng, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, căn cứ vào câu “chùa Clochetons hơi xa..., nhưng cũng nằm trên đường từ Sài Gòn đi Mỹ Tho" (tức đại lộ Hồng Bàng ngày nay) của Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, và nghiên cứu của tác giả Nguyên Thanh, thì ngôi chùa này ở khoảng góc đường Hồng Bàng (trước là Hùng Vương) - Lý Thường Kiệt, tức ở gần Bệnh viện Hùng Vương ngày nay [2]. Và vì chùa Kiểng Phước đã bị phá hủy từ lâu, thêm không có tài liệu nào mô tả lại, nên không rõ lối kiến trúc của ngôi thờ ấy ra sao.
2. Liên quan đến một giai đoạn trong sử Việt:
Ngày 17 tháng 2 năm 1859, thành Gia Định mất vào tay quân Pháp. Sau đó, họ nhanh chóng chiếm lấy các ngôi chùa cổ để làm đồn gọi là "phòng tuyến chùa chiền" (lignes des pagodes), gồm: chùa Khải Tường (pagode de Barbe), chùa Kiểng Phước (pagode des Clochetons), chùa Cây Mai (pagode des Pruniers), đền Hiển Trung (pagode de la Fidelite Eclatante, hay là pagode des Mares)...Phòng tuyến này trải dài từ Chợ Lớn đến Sài Gòn, chủ yếu là để bao vây và đánh Đại đồn Chí Hòa (quân Pháp gọi là "Kỳ Hòa").
Năm 1860, chùa Kiểng Phước bị quân Pháp do Đại úy Malet chỉ huy chiếm đóng và biến thành đồn phòng thủ trong khi Đề đốc Leonard Charner đang ở Trung Quốc [3]. Theo ghi chép của Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu (giới thiệu ở phần sau), thì sau đó nơi đây đã từng xảy ra trận đánh ác liệt giữa liên quân Pháp-Tây Ban Nha và quân đội Việt...
Cuối tháng 2 năm 1861, Đại đồn Chí Hòa do tướng Nguyễn Tri Phương trấn giữ bị thất thủ. Sau đó, đến năm 1866, thì chùa Kiểng Phước “chỉ còn lại mấy cây gỗ mục trong khuôn viên chùa” mà thôi.
3. Trong ghi chép của một sĩ quan Pháp:
Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu là sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của Đề đốc Leonard Charner trong đoàn viễn chinh đánh Sài Gòn năm 1861, và là tác giả cuốn Histoire de L’Expédition de Cochinchine en 1961 (Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ 1861), do nhà xuất bản Hachette in tại Pháp năm 1864, đã viết về chùa Kiểng Phước như sau:
"Chùa (Kiển Phước) xây cất giữa một cánh đồng mồ mả. Các tượng thần sơn vàng, chất đầy chung quanh các gian phòng trong chùa, vẻ mặt tượng trưng một trạng thái gần hoàn toàn thoát tục. Một đàn gà bươi móc khắp nơi, lính thủy và bộ binh nhìn thấy mà thèm. Trên bàn của các sĩ quan có để vài chai rượu vermouth và absinthe; trước mặt đồn súng 30 ly nòng dài có khía xếp thành hàng trên các bệ bắn, lớp sơn đen trầy trụa vì súng phải khiêng lên khiêng xuống. Các chùa hay đồn binh của ta vừa kể giữ nhiều vai trò: vừa là nông trại, đồn canh gác và pháo đội".
Ở một trang khác, tác giả này lại viết:
"Kể từ tháng 6 năm 1860, quan quân An Nam (chỉ quân đội nhà Nguyễn) có ý cô lập người Pháp với thành phố Tàu (tức vùng Chợ Lớn ngày nay), nơi tồn trữ gạo mà người Pháp đem xuất đi từ cảng Sài Gòn....(Cho nên) chúng ta bắt buộc phải giữ vững vị trí...
"Hai chùa khác nằm giữa đồn Cây Mai và Sài Gòn liền được ta chọn thêm để củng cố làm đồn và ta sẽ giữ vững bất cứ giá nào. Việc sửa sang hai chùa để làm nơi phòng thủ bắt đầu ngay tức thời. Chùa thứ nhất là chùa Ao (đền Hiển Trung), sân chùa có tường gạch chung quanh, tạm có thể phòng thủ được ngay. Chùa cách xa các tuyến phòng thủ của địch. Chùa thứ hai là chùa Clochetons (chỉ chùa Kiến Phước) hoàn toàn trống trải và chỉ cách miệng đường hầm của địch (chỉ quân đội nhà Nguyễn) có 400 mét. Ta liền lấy ngay đất ở mồ mả chung quanh đắp tường phòng ngự.
"Ta không thấy quân An Nam đổ ra phòng ngự đường hố đã đào. Nhưng ngay ngày hôm sau bất ngờ nổ súng tủa vào chùa giết mất một người và làm bị thương thêm vài người khác. Mấy nấm mồ ta đã lấy hết đất, vì thế phải đi xa hơn và dùng bao để mang đất về; việc đắp tường phòng thủ tiến triển chậm chạp, cực nhọc, lộ liễu không có gì che tránh địch quân".
"Trong đêm mùng 3, rạng ngày mùng 4 tháng 7, quân An Nam, ít nhất cũng đến 2.000 người, yên lặng vượt khỏi thành, bao vây chùa, trong khi đó chùa chưa biến hẳn thành đồn. Họ xông thẳng vào chùa, hò hét vang lừng. Hỏa pháo của địch cũng bắn vào các chùa khác (đã bị quân Pháp chiếm làm đồn) để làm thế nghi binh và đồng thời cũng bắn vào chùa Clochetons nữa, quân thì bắn xối xả vào người Pháp, người Tây Ban Nha và người An Nam trong đồn. Ðánh giết nhau suốt một giờ đồng hồ. Nhờ viện binh từ Sài Gòn kéo lên mới chấm dứt được trận chiến. Kẻ thù bỏ lại một trăm xác chết". [4]
"Quân lính của đồn Clochetons gồm có 100 quân Tây Ban Nha do trung úy Hernandez chỉ huy, và 60 người Pháp do hai trung úy hải quân cầm đầu là Narac và Gervais. Quân An Nam không trở lại tấn công đồn Clochetons nữa; nhưng lại đào từ cửa hầm đôi một đường hố khác bọc song song phía sau đường phòng tuyến của ta. Do đó đồn Pháp và Tây Ban Nha lọt vào giữa hai đường hố phòng thủ của họ, chận hẳn đường thông thương với cánh đồng phía sau thành Ki-hoa (Kỳ Hòa, chỉ Đại đồn Chí Hòa) [5].
Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
1.^ Theo Réveillère, Paul-Émile-Marie (dit Paul Branda), Ça et là. Cochinchine et Cambodge. L'âme khmère. Ang-Kor. Troisième edition, Fischbacher (Paris), 1887 (http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/1805-nguyen-duc-hiep-saigon-cho-lon-the-ky-17-den-the-ky-19-phan-3.html) .
2.^ Thêm một thông tin khác để tham khảo: Theo P. Midan, qua các bản vẽ sơ đồ “Saigon, ville de 500.000 âmes” (có chữ ký của thượng sĩ Clipet, Trung tá công binh Coffyn và Đề đốc Bonard) do ông tìm được trong kho lưu trữ “Archives de la Direction de l’Artillerie à Saigon”, thì chùa Kiểng Phước ở tại đại lộ Marechal Foch (nay là đường Lý Thường Kiệt), mà phần chính là nằm trên địa điểm của trường nữ sinh Ecoles des Filles và khu đất cạnh đường Armand Rousseau (nay là đường Nguyễn Chí Thanh). Cũng theo P. Midan, thì trong thư của ông Passerat de la Chapelle, kế toán trưởng Chợ Lớn, gởi cho ông chủ tịch thành phố nói là khi ông mới đến Chợ Lớn vào tháng 6 năm 1891, ông được cho ở trong một tòa nhà trong khu chùa Kiểng Phước, mà ông nói thật ra là một trường mẫu giáo. Trường mẫu giáo (ecole maternelle) đổi thành trường nữ sinh (ecole des filles) vào năm 1917. Nguồn: P. Midan, La Pagode des clochetons et la pagode Barbé, contribution à l'histoire de Saïgon-Cholon, Impr. de l'Union Nguyên-van-Cua (Saïgon), 1934. Xem: (http://baotanglichsu.vn/portal/vi/Tin-tuc/Kien-thuc-lich-su---van-hoa/2010/10/3A921BE6/) . Theo đây, thì chùa Kiểng Phước "nằm ở khoảng trường mầm non gần Bệnh viện Chợ Rẫy, tức ở khoảng góc đường Lý Thường Kiệt và Nguyễn Chí Thanh ngày nay".
3.^ Nguồn: (http://baotanglichsu.vn/portal/vi/Tin-tuc/Kien-thuc-lich-su---van-hoa/2010/10/3A921BE6/) . Những chi tiết trong bài viết này đa số là trích từ sách “Souvenirs historiques sur Saïgon et ses environs” của Petrus Trương Vĩnh Ký.
4.^ Không thấy tác giả nói đến số thương vong của người Pháp.
5.^ Xem: (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=9316.5;wap2) .Các chữ trong ngoặc là của người soạn.
Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012
Đền Hiển Trung
Đền Hiển Trung, tên chữ là Hiển Trung Từ, khi xưa toa lạc trên phần đất của làng Tân Triêm, thuộc trấn Gia Định xưa (nay thuộc quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam). Ngày nay ngôi đền đã không còn vì đã bị quân Pháp phá bỏ trước năm 1954[1].
1. Lịch sử
Theo sách Hoàng Việt long hưng chí, sau khi lấy được thành Diên Khánh (Ất Mão, 1795), "Thế Tổ (chỉ chúa Nguyễn Phúc Ánh, sau này là vua Gia Long) sai bộ Lễ ghi tên các công thần trận vong và ốm chết từ khi trung hưng cho tới chiến dịch Diên Khánh, lập đền Hiển Trung ở Gia Định” [2].
Tương tự, Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc, viết: "Đền Hiển Trung xây dựng năm 1795, trùng tu năm 1804 [3], để thờ các công thần đã từng theo giúp Nguyễn Phúc Ánh, trong đó đứng đầu là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu...[4].
Cùng quan điểm này còn có sách Sài Gòn - Gia Định qua thơ văn. Nhóm tác giả này viết: "Hiển Trung Từ còn gọi là Miếu Công Thần, ở địa phận thôn Tân Triêm, trong cuộc đất thành Ô Ma, xây năm 1795"[5].
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, vào khoảng năm Ất Mão (1795), chúa Nguyễn Phúc Ánh cho xây dựng miếu Hội Đồng (còn gọi là "miễu Thánh". Quân Pháp gọi là "temple des Grands Dignitaires". Lúc đầu, miếu phụng thờ các thần linh, sau mới liệt thờ các vị công thần)[6] ở địa phận làng Tân Triêm. Đến năm Giáp Tý (1804), tức sau khi lên ngôi, ông mới cho sửa sang ngôi miếu trên, đồng thời cho xây dựng đền Hiển Trung ở kế bên để thờ các công thần đã từng theo giúp mình[7]. Tin theo đây thì "năm 1795, chỉ có miếu Hội Đồng; đến năm 1804, mới có thêm đền Hiển Trung".
Dưới triều Thiệu Trị (1846 hoặc 1847)[8], đền Hiển Trung được nhà vua cho tu bổ lại.
Tháng 2 năm 1859, thành Gia Định mất vào tay quân Pháp. Sau đó, họ nhanh chóng chiếm lấy các ngôi chùa cổ để làm đồn gọi là “phòng tuyến chùa chiền” (lignes des pagodes), gồm: chùa Khải Tường (pagode de Barbe), chùa Kiểng Phước (pagode des Clochetons), chùa Cây Mai (pagode des Pruniers), đền Hiển Trung... Lúc bấy giờ, người Pháp gọi ngôi đền này là pagode de la Fidelite Eclatante (chùa Hiển Trung), hay là pagode des Mares (có nghĩa chùa ở chỗ khu vực ao nước, vì sân chùa có hai ao nước trồng sen) [9].
Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của tướng Leonard Charner trong đoàn viễn chinh đánh Sài Gòn năm 1861 đã viết về ngôi đền này như sau:
"Chùa Ao trước kia rất nổi tiếng vì là nơi hành hương cho những người đi buôn bán từ Mỹ Tho trở về. Chùa có hai ao nên gọi là chùa Ao, một lớn một nhỏ, nước dơ bẩn, thường thấy thỉnh thoảng có xuất hiện loại cá sấu caiman [10].
Sau khi Gia Định trở thành lãnh địa của Pháp theo Hòa ước Nhâm Tuất (1862), ở khu vực chùa Kim Chương, người Pháp lập Sở nuôi ngựa, và lập ở khu vực đền Hiển Trung một trại lính (tức thành Ô Ma, Camp aux Mares), khiến ngôi đền nằm gọn trong vòng thành [11].
Năm 1927, sau khi đã được ghi vào sổ bộ các cổ tích của Trường Viễn Đông bác cổ (nay là Viện Viễn Đông Bác cổ), đền Hiển Trung đã được nhà trường vừa kể xuất tiền trùng tu lại. Qua năm 1939 (ngày 10 tháng 11 dương lịch), triều đình Huế có biệt phái một đại thần vào đây tế tự [12]
Tang thương biến đổi, ngôi đền đã hư tệ sẵn bởi thời gian, lại thêm nỗi các lính tập của Pháp cùng vợ con của họ “đến ăn ở nơi đây không lòng bảo tồn” (Vương Hồng Sển) nên hầu hết những bài vị đều bị xiêu lạc. Đến thời quân Nhật Bản hoành hành một lúc, rồi đến lượt đạo binh viễn chinh Pháp trở lại chiếm thành Ô Ma sau khi Nhật Bản đầu hàng, thì họ triệt hạ đền Hiển Trung lúc nào không rõ, bất chấp đó là một di tích hiếm có trong Nam [13]. Học giả Vương Hồng Sển kể:
"Đền nầy được trường Viễn Đông Bác Cổ liệt kê vào sổ cổ tích, tưởng nhờ vậy mà được tồn tại, không ngờ đến năm 1954 thì đã không còn! Riêng tôi được đến viếng một phen năm 1947 với ông Pierre Dupont, nhơn viên Trường Bác Cổ, khi ấy đền đã bị mối ăn hư hao nhiều rồi, qua năm 1950, tôi có trở lại viếng với ông Bernard Phillipe Groslier là quản thủ Pháp của viện Bảo Tàng Sài Gòn. Chúng tôi đề nghị cấp tốc sửa chữa đền, nhưng cơ quan nhà binh Pháp không thuận giao trả đền cho Trường Bác Cổ, một hai rằng đền ở trên lãnh thổ nhà binh thì thuộc quyền nhà binh định đoạt! Tưởng việc đâu còn đó, và trong trí tôi đinh ninh nhớ đền ở mé gần đường Võ Tánh cứ đứng ngoài rào, ngay chỗ giáp mối đường Nguyễn Cư Trinh (Marchand) cũ ngó vói qua tường thì thấy nóc đền. Không dè qua năm 1955, chúng tôi trở lại đây với nhơn viên Viện Khảo Cổ, thì đã sao dời vật đổi, đền đâu chẳng thấy, một viên gạch nhỏ cũng không còn, đừng nói chi một bộ kèo trính rường cột chạm trổ tỉ mỉ...[14].
Theo đây, thì lúc bấy giờ đền Hiển Trung ở chỗ “giáp mối” giữa đường Võ Tánh (thời Pháp là đường Frère Louis, sau đó là đường Võ Tánh, và nay là đường Nguyễn Trãi)[15] với đường Nguyễn Cư Trinh (thời Pháp đường Marchand, sau đó là đường Nguyễn Cư Trinh cho đến nay). Và vì ngôi đền đã bị phá hủy từ lâu, thêm không có tài liệu nào mô tả lại, nên không rõ lối kiến trúc của công trình ấy như thế nào [16]
2. Thờ cúng
Lúc sơ khởi, trong đền Hiển Trung thờ 1015 vị công thần, liệt kê như sau:
■Bàn thờ chính ở giữa thờ ba vị, là: Võ Tánh, Ngô Tùng Châu và Nguyễn Tấn Huyên.
■Bàn thờ thứ nhất ở bên trái thờ 10 vị, là: Chưởng dinh Quận công Châu Văn Tiếp, Tiền dinh Quận công Tôn Thất Hội, Thiếu bảo Quận công Tống Viết Phước, Chưởng dinh Quận công Mai Đức Nghị, Chưởng thủy dinh Võ Di Nguy, Chưởng dinh Quận công Nguyễn Cửu Dật, Nguyễn Cửu Toán, Nguyễn Thành, Hữu quân Quận công Tôn Thất Dũ, Tả quân Quận công Nguyễn Văn Chánh.
■Bàn thờ thứ nhất ở bên mặt, thờ 10 vị: Chưởng dinh Quận công Nguyễn Hữu Thụy, Nguyễn Đình Thuyên, Nguyễn Kim Phẩm, Trần Xuân Trạch, Tôn Thất Cốc, Tống Phước Hòa, Thiếu phó Nguyễn Thái Nguyên, Chưởng dinh Bùi Kế, Chưởng cơ Đoàn Văn Các, Hoàng Công Thành.
Ngoài ra, bên ở hai bên hông đền còn có các bàn thờ số còn lại, trong đó có một người Pháp là Chưởng vệ Mạn Hòe (Manuel) [17].
Về sau, trong số 1015 vị công thần này, có 361 vị được chuyển ra thờ trong các đền Trung Hưng, Trung Tiết ở Huế, và đền Bảo Trung ở Khánh Hòa...Đến khi quân Pháp đánh chiếm Gia Định, đền Hiển Trung không ai chăm sóc, vua Tự Đức bèn truyền đem hết số vị còn lại ra thờ ở Ân Tự, thuộc thôn Vĩ Dạ (huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) [18].
3. Thông tin thêm
■Sau Hiệp định Genève 1954, quân Pháp rút khỏi Việt Nam và trao trả thành Ô Ma cho Chính quyền Đệ nhất Cộng hòa. Sau đó, tòa thành này trở thành Tổng Nha Cảnh sát, rồi là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia dưới thời Việt Nam Cộng hòa (số 258 đường Võ Tánh; nay là đường Nguyễn Trãi, thuộc phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
■Theo học giả Trương Vĩnh Ký, trước miếu Hội Đồng và đền Hiển Trung ở ngoài lộ cái, thuở "cựu trào" có dựng hai cột đá, một đề "Khuynh cái" (nghiêng dù), một đề "Hạ mã" (xuống ngựa) để tỏ lòng tôn kính[19].
Sách tham khảo chính
■Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1991.
■Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nxb Văn hóa-Thông tin tái bản năm 2006.
■Nguyễn Thanh, Thành phố bất khuất. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1984.
Chú thích
1.^ Theo Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, tr. 156 và 219.
2.^ Ngô Giáp Đậu, Hoàng Việt long hưng chí, Nxb Văn học, 1993, tr. 212.
3.^ Thông tin này phù hợp theo sử Nguyễn. Sách Quốc triều sử toát yếu chép: "Năm Giáp Tý (1804) tháng 6 (âm lịch), (nhà vua) sắc cho bộ Lễ bàn định về việc 1015 người tử tế được dự tế trong đền Hiển Trung, giao cho các quan trấn chế bàn vị mà thờ" (phần "Chính biên", tr. 88). Những “người tử tế” ở đây, theo Vương Hồng Sển, đó là những “tử sĩ liều mình vì nước trong các trận chống Tây Sơn” (Sài Gòn năm xưa, tr. 155).
4.^ Bài viết "Kim Chương Tự - ngôi chùa lịch sử của đất Gia Định" của Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc đăng trên báo Giác Ngộ online [1] (http://www.giacngo.vn/tuvien/2008/03/24/56D450/) .
5.^ Nguyễn Thanh Xuân - Nguyễn Khuê - Trần Khuê, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.270.
6.^ Lúc đầu quân Pháp chiếm cứ miếu Hội Đồng làm nơi ăn ở, về sau cũng bị họ phá bỏ. Theo Nguyễn Thanh (Thành phố bất khuất, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 145) thì “ngôi miếu bị quân Pháp xóa mất dấu tích khoảng năm 1855”.
7.^ Gia Định xưa, tr. 66.
8.^ Huỳnh Minh (Gia Định xưa, tr. 55) ghi là 1846, Vương Hồng Sển (Sài Gòn năm xưa, tr. 218) ghi là 1847.
9.^ Theo Nguyễn Thanh (Thành phố bất khuất, tr. 145), hoặc xem bài viết "Từ thành Ô Ma đến trường Trung Thu" của Lê Công Lý [2] (http://www.trungthu.us/xuanti/ThanhOMa.htm) .
10.^ Léopold Pallu, Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861. Bản dịch tiếng Việt tại đây: [3] (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=9316.5;wap2) . Nói thêm: Nước ao dơ bẩn, có thể vì lúc đó sen đã tàn lụi hết. "Caiman” là tên của một loại cá sấu.
11.^ Gọi là Ô Ma vì nơi này có nhiều ao sen, và Mares có nghĩa là ao. Thông tin tham khảo: Theo Lê Công Lý thì năm 1875, trên khoảng đất chung quanh đền Hiển Trung, nơi có nhiều ngôi mộ được biến cải thành một trại nuôi ngựa giống gọi là "Ferme des Mares" (Mares cũng có nghĩa là ngựa) bao gồm cả đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và đường Lý Thái Tổ (theo Trương Vĩnh Ký thì Sở nuôi ngựa này ở chỗ khu vực chùa Kim Chương, dẫn lại theo Sài Gòn năm xưa, tr. 153 và 155). Đến khi ngựa giống gốc Ả rập và bò sữa bị chết nhiều vì không hợp thủy thổ, họ chuyển sang trồng lúa giống Miến Điện, rồi lại chuyển sang trồng cỏ cho ngựa ăn, nhưng tất cả đều không thành công, nên trang trại này bị giản tán vì lỗ vốn. Phần thành Ô Ma, ban đầu là nơi huấn luyện các lính tập, sau trở thành Bộ Tổng hành dinh quân đội Liên hiệp Pháp. Xem bài viết "Từ thành Ô Ma đến trường Trung Thu", nguồn đã dẫn.
12.^ Sài Gòn năm xưa, tr. 156.
13.^ Sài Gòn năm xưa, tr. 156.
14.^ Sài Gòn năm xưa, tr. 156 và tr. 219.
15.^ Trước 1975, Sài Gòn có hai đường Võ Tánh: một thuộc Phú Nhuận (gần khu mộ Võ Tánh, nay là đường Hoàng Văn Thụ), một là phần thuộc quận 1 của đường Nguyễn Trãi hiện nay.
16.^ Căn cứ lời kể của Vương Hồng Sển (Sài Gòn năm xưa, tr. 219) và Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức, 2007.
17.^ Mạn Hòe là một võ tướng của chúa Nguyễn, mang quốc tịch Pháp, đã tử trận khi đánh nhau với quân Tây Sơn tại Thất Kỳ Giang (tức sông Ngã Bảy ở Cần Giờ, Sài Gòn) vào năm Nhâm Dần (1782). Theo Nguyễn Lương Bích- Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, xb Quân đội Nhân dân, 1977, tr. 66.
18.^ Lược ghi theo Gia Định xưa, tr. 53-55.
19.^ Dẫn lại theo Sài Gòn năm xưa, tr. 156.
1. Lịch sử
Theo sách Hoàng Việt long hưng chí, sau khi lấy được thành Diên Khánh (Ất Mão, 1795), "Thế Tổ (chỉ chúa Nguyễn Phúc Ánh, sau này là vua Gia Long) sai bộ Lễ ghi tên các công thần trận vong và ốm chết từ khi trung hưng cho tới chiến dịch Diên Khánh, lập đền Hiển Trung ở Gia Định” [2].
Tương tự, Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc, viết: "Đền Hiển Trung xây dựng năm 1795, trùng tu năm 1804 [3], để thờ các công thần đã từng theo giúp Nguyễn Phúc Ánh, trong đó đứng đầu là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu...[4].
Cùng quan điểm này còn có sách Sài Gòn - Gia Định qua thơ văn. Nhóm tác giả này viết: "Hiển Trung Từ còn gọi là Miếu Công Thần, ở địa phận thôn Tân Triêm, trong cuộc đất thành Ô Ma, xây năm 1795"[5].
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, vào khoảng năm Ất Mão (1795), chúa Nguyễn Phúc Ánh cho xây dựng miếu Hội Đồng (còn gọi là "miễu Thánh". Quân Pháp gọi là "temple des Grands Dignitaires". Lúc đầu, miếu phụng thờ các thần linh, sau mới liệt thờ các vị công thần)[6] ở địa phận làng Tân Triêm. Đến năm Giáp Tý (1804), tức sau khi lên ngôi, ông mới cho sửa sang ngôi miếu trên, đồng thời cho xây dựng đền Hiển Trung ở kế bên để thờ các công thần đã từng theo giúp mình[7]. Tin theo đây thì "năm 1795, chỉ có miếu Hội Đồng; đến năm 1804, mới có thêm đền Hiển Trung".
Dưới triều Thiệu Trị (1846 hoặc 1847)[8], đền Hiển Trung được nhà vua cho tu bổ lại.
Tháng 2 năm 1859, thành Gia Định mất vào tay quân Pháp. Sau đó, họ nhanh chóng chiếm lấy các ngôi chùa cổ để làm đồn gọi là “phòng tuyến chùa chiền” (lignes des pagodes), gồm: chùa Khải Tường (pagode de Barbe), chùa Kiểng Phước (pagode des Clochetons), chùa Cây Mai (pagode des Pruniers), đền Hiển Trung... Lúc bấy giờ, người Pháp gọi ngôi đền này là pagode de la Fidelite Eclatante (chùa Hiển Trung), hay là pagode des Mares (có nghĩa chùa ở chỗ khu vực ao nước, vì sân chùa có hai ao nước trồng sen) [9].
Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của tướng Leonard Charner trong đoàn viễn chinh đánh Sài Gòn năm 1861 đã viết về ngôi đền này như sau:
"Chùa Ao trước kia rất nổi tiếng vì là nơi hành hương cho những người đi buôn bán từ Mỹ Tho trở về. Chùa có hai ao nên gọi là chùa Ao, một lớn một nhỏ, nước dơ bẩn, thường thấy thỉnh thoảng có xuất hiện loại cá sấu caiman [10].
Sau khi Gia Định trở thành lãnh địa của Pháp theo Hòa ước Nhâm Tuất (1862), ở khu vực chùa Kim Chương, người Pháp lập Sở nuôi ngựa, và lập ở khu vực đền Hiển Trung một trại lính (tức thành Ô Ma, Camp aux Mares), khiến ngôi đền nằm gọn trong vòng thành [11].
Năm 1927, sau khi đã được ghi vào sổ bộ các cổ tích của Trường Viễn Đông bác cổ (nay là Viện Viễn Đông Bác cổ), đền Hiển Trung đã được nhà trường vừa kể xuất tiền trùng tu lại. Qua năm 1939 (ngày 10 tháng 11 dương lịch), triều đình Huế có biệt phái một đại thần vào đây tế tự [12]
Tang thương biến đổi, ngôi đền đã hư tệ sẵn bởi thời gian, lại thêm nỗi các lính tập của Pháp cùng vợ con của họ “đến ăn ở nơi đây không lòng bảo tồn” (Vương Hồng Sển) nên hầu hết những bài vị đều bị xiêu lạc. Đến thời quân Nhật Bản hoành hành một lúc, rồi đến lượt đạo binh viễn chinh Pháp trở lại chiếm thành Ô Ma sau khi Nhật Bản đầu hàng, thì họ triệt hạ đền Hiển Trung lúc nào không rõ, bất chấp đó là một di tích hiếm có trong Nam [13]. Học giả Vương Hồng Sển kể:
"Đền nầy được trường Viễn Đông Bác Cổ liệt kê vào sổ cổ tích, tưởng nhờ vậy mà được tồn tại, không ngờ đến năm 1954 thì đã không còn! Riêng tôi được đến viếng một phen năm 1947 với ông Pierre Dupont, nhơn viên Trường Bác Cổ, khi ấy đền đã bị mối ăn hư hao nhiều rồi, qua năm 1950, tôi có trở lại viếng với ông Bernard Phillipe Groslier là quản thủ Pháp của viện Bảo Tàng Sài Gòn. Chúng tôi đề nghị cấp tốc sửa chữa đền, nhưng cơ quan nhà binh Pháp không thuận giao trả đền cho Trường Bác Cổ, một hai rằng đền ở trên lãnh thổ nhà binh thì thuộc quyền nhà binh định đoạt! Tưởng việc đâu còn đó, và trong trí tôi đinh ninh nhớ đền ở mé gần đường Võ Tánh cứ đứng ngoài rào, ngay chỗ giáp mối đường Nguyễn Cư Trinh (Marchand) cũ ngó vói qua tường thì thấy nóc đền. Không dè qua năm 1955, chúng tôi trở lại đây với nhơn viên Viện Khảo Cổ, thì đã sao dời vật đổi, đền đâu chẳng thấy, một viên gạch nhỏ cũng không còn, đừng nói chi một bộ kèo trính rường cột chạm trổ tỉ mỉ...[14].
Theo đây, thì lúc bấy giờ đền Hiển Trung ở chỗ “giáp mối” giữa đường Võ Tánh (thời Pháp là đường Frère Louis, sau đó là đường Võ Tánh, và nay là đường Nguyễn Trãi)[15] với đường Nguyễn Cư Trinh (thời Pháp đường Marchand, sau đó là đường Nguyễn Cư Trinh cho đến nay). Và vì ngôi đền đã bị phá hủy từ lâu, thêm không có tài liệu nào mô tả lại, nên không rõ lối kiến trúc của công trình ấy như thế nào [16]
2. Thờ cúng
Lúc sơ khởi, trong đền Hiển Trung thờ 1015 vị công thần, liệt kê như sau:
■Bàn thờ chính ở giữa thờ ba vị, là: Võ Tánh, Ngô Tùng Châu và Nguyễn Tấn Huyên.
■Bàn thờ thứ nhất ở bên trái thờ 10 vị, là: Chưởng dinh Quận công Châu Văn Tiếp, Tiền dinh Quận công Tôn Thất Hội, Thiếu bảo Quận công Tống Viết Phước, Chưởng dinh Quận công Mai Đức Nghị, Chưởng thủy dinh Võ Di Nguy, Chưởng dinh Quận công Nguyễn Cửu Dật, Nguyễn Cửu Toán, Nguyễn Thành, Hữu quân Quận công Tôn Thất Dũ, Tả quân Quận công Nguyễn Văn Chánh.
■Bàn thờ thứ nhất ở bên mặt, thờ 10 vị: Chưởng dinh Quận công Nguyễn Hữu Thụy, Nguyễn Đình Thuyên, Nguyễn Kim Phẩm, Trần Xuân Trạch, Tôn Thất Cốc, Tống Phước Hòa, Thiếu phó Nguyễn Thái Nguyên, Chưởng dinh Bùi Kế, Chưởng cơ Đoàn Văn Các, Hoàng Công Thành.
Ngoài ra, bên ở hai bên hông đền còn có các bàn thờ số còn lại, trong đó có một người Pháp là Chưởng vệ Mạn Hòe (Manuel) [17].
Về sau, trong số 1015 vị công thần này, có 361 vị được chuyển ra thờ trong các đền Trung Hưng, Trung Tiết ở Huế, và đền Bảo Trung ở Khánh Hòa...Đến khi quân Pháp đánh chiếm Gia Định, đền Hiển Trung không ai chăm sóc, vua Tự Đức bèn truyền đem hết số vị còn lại ra thờ ở Ân Tự, thuộc thôn Vĩ Dạ (huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) [18].
3. Thông tin thêm
■Sau Hiệp định Genève 1954, quân Pháp rút khỏi Việt Nam và trao trả thành Ô Ma cho Chính quyền Đệ nhất Cộng hòa. Sau đó, tòa thành này trở thành Tổng Nha Cảnh sát, rồi là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia dưới thời Việt Nam Cộng hòa (số 258 đường Võ Tánh; nay là đường Nguyễn Trãi, thuộc phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
■Theo học giả Trương Vĩnh Ký, trước miếu Hội Đồng và đền Hiển Trung ở ngoài lộ cái, thuở "cựu trào" có dựng hai cột đá, một đề "Khuynh cái" (nghiêng dù), một đề "Hạ mã" (xuống ngựa) để tỏ lòng tôn kính[19].
Sách tham khảo chính
■Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1991.
■Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nxb Văn hóa-Thông tin tái bản năm 2006.
■Nguyễn Thanh, Thành phố bất khuất. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1984.
Chú thích
1.^ Theo Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, tr. 156 và 219.
2.^ Ngô Giáp Đậu, Hoàng Việt long hưng chí, Nxb Văn học, 1993, tr. 212.
3.^ Thông tin này phù hợp theo sử Nguyễn. Sách Quốc triều sử toát yếu chép: "Năm Giáp Tý (1804) tháng 6 (âm lịch), (nhà vua) sắc cho bộ Lễ bàn định về việc 1015 người tử tế được dự tế trong đền Hiển Trung, giao cho các quan trấn chế bàn vị mà thờ" (phần "Chính biên", tr. 88). Những “người tử tế” ở đây, theo Vương Hồng Sển, đó là những “tử sĩ liều mình vì nước trong các trận chống Tây Sơn” (Sài Gòn năm xưa, tr. 155).
4.^ Bài viết "Kim Chương Tự - ngôi chùa lịch sử của đất Gia Định" của Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc đăng trên báo Giác Ngộ online [1] (http://www.giacngo.vn/tuvien/2008/03/24/56D450/) .
5.^ Nguyễn Thanh Xuân - Nguyễn Khuê - Trần Khuê, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.270.
6.^ Lúc đầu quân Pháp chiếm cứ miếu Hội Đồng làm nơi ăn ở, về sau cũng bị họ phá bỏ. Theo Nguyễn Thanh (Thành phố bất khuất, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 145) thì “ngôi miếu bị quân Pháp xóa mất dấu tích khoảng năm 1855”.
7.^ Gia Định xưa, tr. 66.
8.^ Huỳnh Minh (Gia Định xưa, tr. 55) ghi là 1846, Vương Hồng Sển (Sài Gòn năm xưa, tr. 218) ghi là 1847.
9.^ Theo Nguyễn Thanh (Thành phố bất khuất, tr. 145), hoặc xem bài viết "Từ thành Ô Ma đến trường Trung Thu" của Lê Công Lý [2] (http://www.trungthu.us/xuanti/ThanhOMa.htm) .
10.^ Léopold Pallu, Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861. Bản dịch tiếng Việt tại đây: [3] (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=9316.5;wap2) . Nói thêm: Nước ao dơ bẩn, có thể vì lúc đó sen đã tàn lụi hết. "Caiman” là tên của một loại cá sấu.
11.^ Gọi là Ô Ma vì nơi này có nhiều ao sen, và Mares có nghĩa là ao. Thông tin tham khảo: Theo Lê Công Lý thì năm 1875, trên khoảng đất chung quanh đền Hiển Trung, nơi có nhiều ngôi mộ được biến cải thành một trại nuôi ngựa giống gọi là "Ferme des Mares" (Mares cũng có nghĩa là ngựa) bao gồm cả đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và đường Lý Thái Tổ (theo Trương Vĩnh Ký thì Sở nuôi ngựa này ở chỗ khu vực chùa Kim Chương, dẫn lại theo Sài Gòn năm xưa, tr. 153 và 155). Đến khi ngựa giống gốc Ả rập và bò sữa bị chết nhiều vì không hợp thủy thổ, họ chuyển sang trồng lúa giống Miến Điện, rồi lại chuyển sang trồng cỏ cho ngựa ăn, nhưng tất cả đều không thành công, nên trang trại này bị giản tán vì lỗ vốn. Phần thành Ô Ma, ban đầu là nơi huấn luyện các lính tập, sau trở thành Bộ Tổng hành dinh quân đội Liên hiệp Pháp. Xem bài viết "Từ thành Ô Ma đến trường Trung Thu", nguồn đã dẫn.
12.^ Sài Gòn năm xưa, tr. 156.
13.^ Sài Gòn năm xưa, tr. 156.
14.^ Sài Gòn năm xưa, tr. 156 và tr. 219.
15.^ Trước 1975, Sài Gòn có hai đường Võ Tánh: một thuộc Phú Nhuận (gần khu mộ Võ Tánh, nay là đường Hoàng Văn Thụ), một là phần thuộc quận 1 của đường Nguyễn Trãi hiện nay.
16.^ Căn cứ lời kể của Vương Hồng Sển (Sài Gòn năm xưa, tr. 219) và Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức, 2007.
17.^ Mạn Hòe là một võ tướng của chúa Nguyễn, mang quốc tịch Pháp, đã tử trận khi đánh nhau với quân Tây Sơn tại Thất Kỳ Giang (tức sông Ngã Bảy ở Cần Giờ, Sài Gòn) vào năm Nhâm Dần (1782). Theo Nguyễn Lương Bích- Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, xb Quân đội Nhân dân, 1977, tr. 66.
18.^ Lược ghi theo Gia Định xưa, tr. 53-55.
19.^ Dẫn lại theo Sài Gòn năm xưa, tr. 156.
Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012
Nhà yêu nước Hồ Tá Bang
Hồ Tá Bang

Sáu sáng lập viên của trường Dục Thanh và Công Ty Liên Thành: Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh (hàng trên), Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng (hàng dưới).
Hồ Tá Bang (1875-1943) là một nhà cải cách duy tân Việt Nam thời cận đại, và là một trong sáu thành viên sáng lập trường Dục Thanh và công ty Liên Thành hồi đầu thế kỷ 20.
Ông sinh năm Ất Hợi (1875) tại làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế). Sau ông dời vào cư ngụ ở Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (nay là thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận). Thời niên thiếu ông theo học chữ Hán và chữ Quốc ngữ nhưng không đi thi. Năm Mậu Tuất (1898), ông làm ký lục tại Tòa sứ Phan Thiết; sau đổi về làm ở Tòa sứ Hội An.
Khoảng năm Ất Tỵ (1905), trên đường vào Nam làm cuộc vận động duy tân, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng có đến ngụ tại "Ngọa du sào" của Nguyễn Thông (khi ấy đã mất) ở Phan Thiết. Do chịu ảnh hưởng tư tưởng của nhà duy tân Nguyễn Lộ Trạch từ lúc còn ở quê nhà, nên sau khi gặp gỡ ba nhà yêu nước ấy, Hồ Tá Bang liền hăng hái tham gia . Sau đó, ông cùng với Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (em ông Lội, và cả hai đều là con của Nguyễn Thông), Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng thành lập:
■Liên Thành thư xã: truyền bá các sách báo có nội dung yêu nước, được thành lập năm 1905.
■Liên Thành thương quán (tức công ty Liên Thành): làm kinh tế gây quỹ hoạt động, đồng thời tạo công ăn việc làm cho nhân dân, được thành lập năm 1906.
■Dục Thanh học hiệu (tức trường Dục Thanh): dạy cho con em người yêu nước và lao động nghèo theo nội dung yêu nước và tiến bộ, được thành lập năm 1907.
Khoảng tháng 8 năm 1910, Hồ Tá Bang cùng Trương Gia Mô đưa con của bạn (Nguyễn Sinh Sắc) là Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) vào Sài Gòn tìm đường sang Pháp.
Năm 1911, Nguyễn Trọng Lội qua đời, Hồ Tá Bang thay thế ở chức vụ Tổng lý (tức Giám đốc) công ty Liên Thành. Ông đã khéo léo xoay xở để đưa công ty vượt qua quãng thời gian khó khăn, lúc phong trào Duy Tân bị đàn áp và công ty bị liên tục gây khó dễ.
Năm 1917, Nguyễn Quý Anh được bầu làm Tổng lý, Hồ Tá Bang đảm nhiệm Nghị trưởng (Chủ tịch Hội đồng Quản trị) và chính thức dời Tổng cuộc vào Chợ Lớn để phát triển việc kinh doanh.
Theo tài liệu, thì Hồ Tá Bang đã tham gia điều hành trường Dục Thanh (đóng cửa năm 1912) và công ty Liên Thành gần 30 năm [1]...
Năm Quý Mùi (1943), Hồ Tá Bang mất, thọ 68 tuổi, được an táng tại đồn điền của ông cách thị xã Phan Thiết (nay là thành phố Phan Thiết) hơn 10 km.
Trước khi mất ông có câu đối khắc ở sinh phần:
Sinh vi nô lệ sinh do tử;
Tử hữu tinh thần tử nhược sinh.
Nghĩa là:
Sống làm nô lệ sống như chết
Chết có tinh thần chết như sống.
Tư cách và đức độ của Hồ Tá Bang được nhân dân và sĩ phu kính trọng. Sinh thời, ông có sáng tác văn chương. Thơ văn ông thấm đượm tinh thần yêu nước, tiêu biểu là bài "Tế thủ tiền lỗ văn" (văn tế bọn bo bo giữ tiền) đăng trên báo Lục tỉnh tân văn số ngày 24 tháng 3 năm 1908 ở Sài Gòn. Con ông là bác sĩ Hồ Tá Khanh cũng là một nhân sĩ. Năm 1945, ông có chân trong nội các Trần Trọng Kim.
1. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 284). Thông tin thêm: Sau khi Trần Lệ Chất mất, năm 1969, ông Huỳnh Văn Dậu giữ trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng Quản trị cho đến khi ông đồng ý hiến công ty cho Chính quyền lúc bấy giờ vào năm 1979 với điều kiện là giữ lại tên Liên Thành cùng với bàn thờ 6 thành viên sáng lập. Xem chi tiết ở trang: Công ty Liên Thành.
Sách tham khảo chính;
■Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, mục từ "Hồ Tá Bang" trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, 1992.

Sáu sáng lập viên của trường Dục Thanh và Công Ty Liên Thành: Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh (hàng trên), Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng (hàng dưới).
Hồ Tá Bang (1875-1943) là một nhà cải cách duy tân Việt Nam thời cận đại, và là một trong sáu thành viên sáng lập trường Dục Thanh và công ty Liên Thành hồi đầu thế kỷ 20.
Ông sinh năm Ất Hợi (1875) tại làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế). Sau ông dời vào cư ngụ ở Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (nay là thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận). Thời niên thiếu ông theo học chữ Hán và chữ Quốc ngữ nhưng không đi thi. Năm Mậu Tuất (1898), ông làm ký lục tại Tòa sứ Phan Thiết; sau đổi về làm ở Tòa sứ Hội An.
Khoảng năm Ất Tỵ (1905), trên đường vào Nam làm cuộc vận động duy tân, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng có đến ngụ tại "Ngọa du sào" của Nguyễn Thông (khi ấy đã mất) ở Phan Thiết. Do chịu ảnh hưởng tư tưởng của nhà duy tân Nguyễn Lộ Trạch từ lúc còn ở quê nhà, nên sau khi gặp gỡ ba nhà yêu nước ấy, Hồ Tá Bang liền hăng hái tham gia . Sau đó, ông cùng với Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (em ông Lội, và cả hai đều là con của Nguyễn Thông), Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng thành lập:
■Liên Thành thư xã: truyền bá các sách báo có nội dung yêu nước, được thành lập năm 1905.
■Liên Thành thương quán (tức công ty Liên Thành): làm kinh tế gây quỹ hoạt động, đồng thời tạo công ăn việc làm cho nhân dân, được thành lập năm 1906.
■Dục Thanh học hiệu (tức trường Dục Thanh): dạy cho con em người yêu nước và lao động nghèo theo nội dung yêu nước và tiến bộ, được thành lập năm 1907.
Khoảng tháng 8 năm 1910, Hồ Tá Bang cùng Trương Gia Mô đưa con của bạn (Nguyễn Sinh Sắc) là Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) vào Sài Gòn tìm đường sang Pháp.
Năm 1911, Nguyễn Trọng Lội qua đời, Hồ Tá Bang thay thế ở chức vụ Tổng lý (tức Giám đốc) công ty Liên Thành. Ông đã khéo léo xoay xở để đưa công ty vượt qua quãng thời gian khó khăn, lúc phong trào Duy Tân bị đàn áp và công ty bị liên tục gây khó dễ.
Năm 1917, Nguyễn Quý Anh được bầu làm Tổng lý, Hồ Tá Bang đảm nhiệm Nghị trưởng (Chủ tịch Hội đồng Quản trị) và chính thức dời Tổng cuộc vào Chợ Lớn để phát triển việc kinh doanh.
Theo tài liệu, thì Hồ Tá Bang đã tham gia điều hành trường Dục Thanh (đóng cửa năm 1912) và công ty Liên Thành gần 30 năm [1]...
Năm Quý Mùi (1943), Hồ Tá Bang mất, thọ 68 tuổi, được an táng tại đồn điền của ông cách thị xã Phan Thiết (nay là thành phố Phan Thiết) hơn 10 km.
Trước khi mất ông có câu đối khắc ở sinh phần:
Sinh vi nô lệ sinh do tử;
Tử hữu tinh thần tử nhược sinh.
Nghĩa là:
Sống làm nô lệ sống như chết
Chết có tinh thần chết như sống.
Tư cách và đức độ của Hồ Tá Bang được nhân dân và sĩ phu kính trọng. Sinh thời, ông có sáng tác văn chương. Thơ văn ông thấm đượm tinh thần yêu nước, tiêu biểu là bài "Tế thủ tiền lỗ văn" (văn tế bọn bo bo giữ tiền) đăng trên báo Lục tỉnh tân văn số ngày 24 tháng 3 năm 1908 ở Sài Gòn. Con ông là bác sĩ Hồ Tá Khanh cũng là một nhân sĩ. Năm 1945, ông có chân trong nội các Trần Trọng Kim.
Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu
Chú thích:1. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 284). Thông tin thêm: Sau khi Trần Lệ Chất mất, năm 1969, ông Huỳnh Văn Dậu giữ trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng Quản trị cho đến khi ông đồng ý hiến công ty cho Chính quyền lúc bấy giờ vào năm 1979 với điều kiện là giữ lại tên Liên Thành cùng với bàn thờ 6 thành viên sáng lập. Xem chi tiết ở trang: Công ty Liên Thành.
Sách tham khảo chính;
■Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, mục từ "Hồ Tá Bang" trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, 1992.
Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012
Giáo sư Nguyễn Đăng Thục
Nguyễn Đăng Thục (1909-1999) là nhà giáo dục, nhà nghiên cứu triết học và văn học Việt Nam ở thế kỷ 20.
Ông sinh ngày 14 tháng 6 năm 1909 [1] trong một gia đình có truyền thống nho học và khoa bảng, tại làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).
Thuở nhỏ, ông học tiểu học ở trường làng, học cấp trung học ở trường Albert Sarraut (Hà Nội). Năm 1927, Nguyễn Đăng Thục sang du học ở Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ. Sau khi, đỗ tú tài I và II ban Triết học và Toán học tại Marseilles ở miền Nam nước Pháp, ông theo học kỹ nghệ và khoa học tại L’École Nationale des Arts (Trường Quốc gia Mỹ thuật) và Đại học Lille ở Roubais ở miền Bắc nước Pháp, rồi tốt nghiệp Kỹ sư hóa học.
Năm 1934, ông trở về nước cùng với Bùi Ngọc Ái, Vũ Đình Di. Năm sau (1935), ông cùng với hai bạn này xuất bản tờ báo L’Avenir de la Jeunesse (tương lai của tuổi trẻ) tại Hà Nội.
Năm 1937, ông làm bỉnh bút (biên tập viên) cho tờ Le Travail (Lao Động). Ít lâu sau tờ báo này bị đình bản, ông quay về với nghề chuyên môn đã học là ngành kỹ nghệ, nhận làm kỹ sư hóa học cho Nhà máy dệt Nam Định (S.F.A.T). Trong thời gian làm việc ở đây, ông đã dành nhiều thì giờ nghiên cứu về văn hóa Á Đông và đã viết hai tác phẩm Bình giải sách Đại học và Tinh thần khoa học và đạo học. Năm 1944, ông đứng ra xuất bản tạp chí Duy Nhất tại Nam Định với chủ trương dung hòa văn hóa Đông-Tây.
Năm 1945, Nguyễn Đăng Thục thôi việc tại Nhà máy dệt Nam Định, về làng Thụy Khê gần hồ Tây (Hà Nội) mở nhà máy riêng và tham gia các hoạt động văn hóa.
Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19 tháng 2 năm 1946), ông làm kỹ sư cho công binh xưởng Liên khu III. Năm 1948, ông làm Giám đốc học vụ Trường Dân Huấn Vụ.
Năm 1949, ông hồi cư về Hà Nội và qua năm sau, ông được mời dạy bộ môn Triết học Đông phương tại Trường Đại học Văn Khoa Hà Nội, và làm chủ bút tờ Văn hóa tùng biên.
Năm 1954, Nguyễn Đăng Thục vào Sài Gòn làm việc ở bộ Văn hóa, giảng dạy triết học Đông phương và văn chương Việt Nam tại Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Cùng thời điểm này, ông còn đứng ra sáng lập và làm Chủ tịch Hội Việt Nam Nghiên cứu và Liên lạc Văn hóa Á châu, làm Chủ nhiệm và Chủ bút tạp chí Văn hóa Á châu.
Từ năm 1961 đến năm 1964, ông giữ chức Giáo sư Khoa trưởng Khoa Văn học Việt Nam tại Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Trưởng tiểu ban văn hóa của tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) tại Việt Nam.
Trong khoảng năm 1964-1965, ông cùng một số trí thức, nhân sĩ tiến bộ ở Sài Gòn như Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, Bác sĩ Phạm Văn Ngỡi, nhà báo Cao Minh Chiếm, thi sĩ Trần Tuấn Khải, v.v...công khai ký một bản kiến nghị yêu cầu chính quyền Việt Nam Cộng hòa trực tiếp thương thuyết với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam để chấm dứt chiến tranh. Do đó ông bị chính quyền Phan Huy Quát cách chức và buộc thôi dạy ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Năm 1967, ông được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mời giữ chức Khoa trưởng phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn kiêm Giáo sư môn Triết học Đông phương tại Viện Đại học Vạn Hạnh cho đến năm 1975. Khi tham gia giảng dạy tại đây, năm 1973, ông được Viện Đại học Vạn Hạnh trao văn bằng Tiến sĩ danh dự nhân kỷ niệm 10 năm thành lập.
Sau năm 1975, ông nghỉ dạy vì tuổi cao sức yếu. Giáo sư Nguyễn Đăng Thục mất ngày 3 tháng 6 năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 90 tuổi.
Tác phẩm của GS. Nguyễn Đăng Thục đã xuất bản trước năm 1975:
o Đại học, Tứ hải (Hà Nội, 1940)
o Triết lý nhân sinh Nguyễn Công Trứ (Hà Nội, 1950)
o Tinh thần khoa học Đạo học (Văn hóa hiệp hội Hà Nội, 1953. Năm 1967, Khai trí ở Sài Gòn in lại)
o Dân tộc tính (Văn hóa vụ Sài Gòn, 1956)
o Triết lý văn hóa khái luận (Văn hữu Á châu, Sài Gòn, 1956)
o Triết học Đông phương nhập môn (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, lần I: 1958, lần 2: 1960)
o Văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á (Văn Hóa Á Châu, Sài Gòn, 1961)
o Lịch sử triết học Đông phương tập I (Linh Sơn, Sài Gòn, 1956. Duy Nhất in lại, Sài Gòn, 1963)
o Lịch sử triết học Đông phương tập II (Linh Sơn, Sài Gòn, 1956. Khai Trí in lại, Sài Gòn, 1963)
o Lịch sử triết học Đông phương tập III (Đông Phương, Sài Gòn, 1956)
o Lịch sử triết học Đông Phương tập IV (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, lần thứ I: 1962, lần thứ 2: 1968)
o Lịch sử triết học Đông phương tập V (Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn, 1964)
o Tư tưởng Việt Nam (Khai Trí, Sài Gòn, 1964)
o Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập I (Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1967)
o Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập II (Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1970)
o Thiền học Việt Nam (Lá Bối, Sài Gòn, 1967)
o Democracy in traditional Vietnamese society (Nền dân chủ trong xã hội Việt Nam cổ truyền. Bộ Giáo Dục, Sài Gòn, 1962)
o Asian culture and Vietnamese humanism (Văn hóa châu Á và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Hội Văn Hóa Á Châu, Sài Gòn, 1965)
o Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập III, IV, V, VI, in 1973 tại Sài Gòn)
o Vũ trụ nghệ thuật Nguyễn Du (1973)
o Lý hoặc luận của Mâu Bác (dịch và chú thích)
o Triết học Thiền của Trần Thái Tông (1970)
o Khóa hư lục của Trần Thái Tông (dịch và chú thích, in 1972). Ngoài ra, ông còn một số ít tác phẩm chưa xuất bản.
Sau năm 1975, một số tác phẩm của ông đã được chọn in lại, trong đó có hai bộ sách đồ sộ là Lịch sử triết học Đông phương (trọn bộ 5 tập. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1991) và Lịch sử tư tưởng Việt Nam (trọn bộ 6 tập. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992)[2].
*
Hầu hết tác phẩm của Nguyễn Đăng Thục đều là một cái nhìn tổng thể về lịch sử tư tưởng phương Đông, nhất là lịch sử tưởng Việt Nam. Nổi bật nhất là bộ Lịch sử triết học Đông phương. Đây là "công trình đầu tiên" bằng tiếng Việt, giới thiệu một cách hệ thống các trào lưu tư tưởng phương Đông khởi đầu từ Ấn Độ, Trung Hoa và các nước châu Á.
Một công trình nổi bật khác, đó là bộ Lịch sử tư tưởng Việt Nam. Ở đây, tác giả giới thiệu lịch sử tư tưởng Việt Nam kể từ khi người Việt xây dựng Nhà nước cổ đại cho đến thời kỳ văn hóa phương Tây du nhập vào nước Việt trong thế kỷ 16. Suốt chiều dài mấy ngàn năm đó, người Việt đã từng bước chắt lọc các nguồn tư tưởng ngoại lai và hòa hợp với tư tưởng bản địa để có một hệ tưởng Việt Nam đa dạng và phong phú.
Ngoài ra, ông còn có một số sách viết về thiền học Việt Nam, rất có giá trị. Với tư cách chuyên sâu của một học giả, lần đầu tiên Nguyễn Đăng Thục đặt thiền học trong tiến trình lịch sử tư tưởng dân tộc để xem xét một cách cặn kẽ…
Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Ghi theo Từ điển văn học (bộ mới, tr. 1126). Website Thư viện Hoa sen ghi Nguyễn Đăng Thục sinh ngày 19 tháng 9 năm 1908
Nguồn tham khảo:
-Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Huệ Chi, mục từ “Nguyễn Đăng Thục” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004.
-Tiểu sử Nguyễn Đăng Thục trên Website Thư viện Hoa Sen.
Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012
Vũ Anh Khanh và bài thơ Tha La xóm đạo của ông
I. Tác giả:
Vũ Anh Khanh tên thật là Võ
Văn Khanh [1] (1926-1956); là nhà thơ, nhà văn Việt Nam thời kháng Pháp.
Ông sinh tại Mũi Né (trước
thuộc quận Hải Long, nay thuộc thành phố Phan Thiết), tỉnh Bình Thuận.
Không rõ thân thế, chỉ biết
trước năm 1945, ông vào ở Sài Gòn và làm báo, viết văn. Sau ngày Toàn quốc
kháng chiến (19 tháng 12 năm 1946), ông cùng hoạt động với Lý Văn Sâm, Dương Tử
Giang, Thẩm Thệ Hà...trong nhóm văn học yêu nước ở Sài Gòn.
Năm 1950, bị nhà cầm quyền
Sài Gòn lùng bắt, ông và một bạn bè trốn thoát ra chiến khu. Năm 1945, ông tập
kết ra miền Bắc, rồi mất tại Quảng Trị năm 1956, lúc mới 30 tuổi [2].
Vũ Anh Khanh là một cây bút
chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông phần lớn được in trong
năm 1949 tại Sài Gòn, với số lượng phát hành chiếm kỷ lục trong số ấn phẩm thời
đó, gồm:
*Truyện dài:
-Cây ná trắc (Nxb. Tân Việt,
Sài Gòn, 1947)
-Nửa bồ xương khô (2 tập,
Nxb. Tân Việt Nam,
Sài Gòn, 1949)
-Bạc xỉu lìn (Nxb. Tiếng
chuông, Sài Gòn, 1949)
*Tập truyện ngắn:
-Sông máu (Nxb. Tiếng chuông, Sài Gòn, 1949)
-Đầm Ô Rô (Nxb. Tiếng chuông, Sài Gòn, 1949)
-Bên kia sông (Nxb. Tân Việt Nam, Sài Gòn,
1949, 1949)
-Ngũ Tử Tư (Nxb. Tân Việt Nam, Sài Gòn, 1949)
Ngoài ra, ông còn sáng tác
thơ, nổi bật có bài "Chiến sĩ hành", "Tha La xóm đạo",...
Nhìn chung, các tác phẩm trên
đều là những bức tranh bi thiết nhưng hào hùng của người dân Nam Bộ, trên những
chặn đường lịch sử chống Pháp gay go. Vì vậy, chúng có giá trị tiêu biểu cho
dòng văn chương thời kỳ kháng Pháp ở Nam Bộ. Nhưng, dường như nhiều người chỉ
nhớ đến Vũ Anh Khanh với bài thơ "Tha La xóm đạo".
II. Bài thơ Tha La xóm đạo:
Vũ Anh Khanh viết bài thơ Tha
La xóm đạo vào năm 1950, sau ngày ông đến thăm Tha La. Đây là một xứ đạo Thiên
Chúa đã có từ lâu đời, nay thuộc xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Bài thơ là một câu chuyện kể về xóm đạo Tha La trong thời khói lửa chiến tranh.
Lời thơ dung dị, gần gũi. Nhịp điệu của bài thơ nhẹ nhàng như lời tâm tình, đã
lay động tâm hồn của biết bao người. "Tha La xóm đạo" đã được nhạc sĩ
Dũng Chinh, cũng là người Phan Thiết, phổ nhạc vào năm 1964. Sau đó một năm, nhạc
sĩ Sơn Thảo phổ thành bài hát mang tên "Hận Tha La", và cũng trong
năm này nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành ca khúc mang tên "Vĩnh Biệt Tha
La". Ngoài ra, soạn giả cải lương Viễn Châu cũng đã phỏng theo ý tưởng của
Vũ Anh Khanh để viết ca khúc tân cổ giao duyên "Tha La xóm đạo". Dưới
đây là nguyên văn bài thơ:
Đây Tha La xóm đạo,
Có trái ngọt, cây lành.
Tôi về thăm một dạo,
Giữa mùa nắng vàng hanh,
Có trái ngọt, cây lành.
Tôi về thăm một dạo,
Giữa mùa nắng vàng hanh,
Ngậm ngùi, Tha La bảo:
- Đây rừng xanh, rừng xanh,
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
- Đây rừng xanh, rừng xanh,
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
Viễn khách ơi! Hãy dừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng
Đây Tha La một xóm đạo ven rừng.
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây! Khách hỡi! Có ai chờ?
Ai đưa đón?
Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng
Đây Tha La một xóm đạo ven rừng.
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây! Khách hỡi! Có ai chờ?
Ai đưa đón?
Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ.
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng
Tha La hỏi: - Khách buồn nơi đây vắng?
- Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn.
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít,
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ.
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng
Tha La hỏi: - Khách buồn nơi đây vắng?
- Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn.
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít,
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch.
Gặp cụ già đang ngắm gió bâng khuâng
Đang đón mây xa... Khách bỗng ngại ngần:
- Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng: "Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi, đau đất nước lầm than".
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch.
Gặp cụ già đang ngắm gió bâng khuâng
Đang đón mây xa... Khách bỗng ngại ngần:
- Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng: "Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi, đau đất nước lầm than".
Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. Ờ... ơ... hơ... Tiếng hát,
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La hận quốc thù,
Tha La buồn tiếng kiếm.
Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh
Ờ... ơ... hơ... Có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
- Lạy đức Thánh Cha!
Lạy đức Thánh Mẹ!
Lạy đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...
Rồi... cởi trả áo tu,
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Rồi... nhẹ bước trở về trần...
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân,
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tang,
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi cho bẽ bàng!
Ờ... ơ... hơ... Ờ... ơ... hơ... Tiếng hát;
Rung làm lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc,
Buồn tênh hênh, não lòng lắm khách ơi!
Ngày hiu quạnh. Ờ... ơ... hơ... Tiếng hát,
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La hận quốc thù,
Tha La buồn tiếng kiếm.
Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh
Ờ... ơ... hơ... Có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
- Lạy đức Thánh Cha!
Lạy đức Thánh Mẹ!
Lạy đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...
Rồi... cởi trả áo tu,
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Rồi... nhẹ bước trở về trần...
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân,
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tang,
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi cho bẽ bàng!
Ờ... ơ... hơ... Ờ... ơ... hơ... Tiếng hát;
Rung làm lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc,
Buồn tênh hênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách quá đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
- Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dâng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh...
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
- Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dâng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh...
Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Nguồn tham khảo chính:
-Nguyễn Q. Thắng, mục từ
"Vũ Anh Khanh" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới,
2004.
- Lê Ngọc Trác, "Thi sĩ
Vũ Anh Khanh - Một bài thơ số mãi với đời", trên website Hội Nhà văn Thành
phố Hồ Chí Minh.
Chú thích:
[1] Ghi theo Lê Ngọc Trác.
Nguyễn Q. Thắng (tr. 2017) ghi tên thật của Vũ Anh Khanh là Nguyễn Năm.
[2] Nhà văn Xuân Vũ trong bài
viết “Người chết không mồ”, đăng trên Văn Hóa Việt Nam số 14 năm 2001, cho biết
Vũ Anh Khanh nhân kỳ nghỉ phép, đã sửa thông hành từ Vĩnh Phúc thành Vĩnh Linh,
để vào Quảng Trị vượt biên vào Nam. Ông bơi qua đoạn sông Bến Hải, phía trên
thượng nguồn cầu Hiền Lương chừng vài cây số, thì bị bộ đội biên phòng bờ Bắc bắn
chết bằng tên tẩm thuốc độc để không bị ai phát giác. Xác của người bạc mệnh được
kéo lên vùi dập đâu đó trong khu phi quân sự. Ông Võ Hồng Cương, Cục phó Cục
Tuyên Huấn quân đội nhân dân Việt Nam, cũng kể tương tự [http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/read-poems-on-xmas-eve-12242011131439.html].
Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2012
Nhà quân sự kiệt xuất đời Trần: Trần Hưng Đạo
Nhà quân sự kiệt xuất đời Trần: Trần Hưng Đạo
Tượng đài Trần Hưng Đạo tại bến Bạch Đằng, Sài Gòn.
Trần Hưng Đạo (1232? - 1300), còn được gọi là Hưng Đạo
Vương, tên thật là Trần Quốc Tuấn; là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, và
là nhà văn Việt Nam
thời Trần.
1. Thân thế:
Cha mẹ Trần Hưng Đạo là An Sinh vương Trần Liễu và một bà
tôn thất nhà Trần tên là Nguyệt. Ông gọi vua Trần Thái Tông bằng chú ruột, và
Công chúa Thụy Bà (chị ruột của vua Trần Thái Tông, và là cô ruột Trần Quốc Tuấn)
là mẹ nuôi. Nguyên quán ông ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc xã Lộc
Vượng, thành phố Nam
Định).
Ông là người có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người,
và nhờ được những người tài giỏi đến giảng dạy, mà ông sớm trở thành người đọc
thông hiểu rộng, có tài văn võ.
2. Ba lần chống quân Nguyên Mông:
Trần Hưng Đạo trở thành võ quan nhà Trần lúc nào không
rõ, chỉ biết vào tháng 9 (âm lịch) năm Đinh Tỵ (1257), ông giữ quyền “tiết chế”
để chuẩn bị chống lại cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông. Sách Đại Việt sử ký toàn
thư chép: "Tháng 9 (1257), (Trần
Thái Tông) xuống chiếu, lệnh (cho) tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn
giữ biên giới (phía Bắc) theo sự tiết chế của (Trần) Quốc Tuấn" [tập
2, tr. 77].
Sau khi đánh lui được quân Nguyên Mông lần đầu (1258),
tháng 10 (âm lịch) năm 1283, để chuẩn bị kháng chiến lần hai (1285), Trần Hưng
Đạo được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh các lực lượng
quân sự. Tháng 8 (âm lịch) năm sau (1284), ông cho duyệt quân ở bến Đông Bộ Đầu
(gần dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay), đọc bài "Hịch tướng sĩ" nổi tiếng,
rồi chia quân đóng giữ nơi hiểm yếu.
Đầu năm 1285, tức 27 năm sau, quân Nguyên Mông lại ào ạt
tiến công vào phía bắc và vùng Thanh Hóa-Nghệ An. Để bảo toàn lực lượng và thực
hiện kế "thanh dã" (vườn không nhà trống), Trần Hưng Đạo ra lệnh rút
quân. Quân xâm lược vào Thăng Long rồi tiến xuống Thiên Trường (vùng Nam Định)
đuổi theo vua Trần. vua Trần Thánh Tông lo ngại, vờ hỏi ông xem có nên hàng
không. Ông khảng khái trả lời "Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng".
Tháng 5 (dương lịch) năm ấy (1285), ông vạch kế hoạch tổng phản công. Chỉ sau một
tháng chiến đấu quyết liệt với các trận Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp,...quân
dân nhà Trần đã đánh tan đội quân Nguyên Mông, giải phóng đất nước.
Cuối năm 1287, nhà Nguyên xâm lược lần thứ ba. Trần Nhân
Tông hỏi: "Năm nay đánh giặc thế nào?". Trần Hưng Đạo đáp: "Năm
nay đánh dễ". Khi đoàn thuyền lương đối phương bị tiêu diệt ở Vân Đồn, chủ
tướng là Thái tử Thoát Hoan phải rút lui, ông bố trí lực lượng mai phục ở cửa
sông Bạch Đằng trực tiếp tổ chức chiến trường tiêu diệt toàn bộ binh thuyền của
Ô Mã Nhi vào tháng 4 (âm lịch) năm Mậu Tý (1288). Thoát Hoan nghe tin đội quân
thủy đã vỡ tan rồi, liền dẫn tàn quân tháo chạy về nước, dọc đường bị quân Việt
đón đánh khiến "quân sĩ mười phần, tổn hại mất 5, 8 phần".
3. Lui về Vạn Kiếp rồi qua đời:
Tháng 4 (âm lịch) năm Kỷ Sửu (1289), luận công đánh đuổi
quân Nguyên Mông, Trần Hưng Đạo được phong tước Hưng Đạo đại vương. Sau đó, ông
lui về ở Vạn Kiếp, là nơi ông được phong ấp (nay thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí
Linh, tỉnh Hải Dương). Nhân dân lúc bấy giờ kính trọng ông, lập đền thờ sống
(sinh từ) ông ở Vạn Kiếp. Tại đền có bài văn bia của vua Trần Thánh Tông, ví
ông với Thượng phụ (tức Khương Tử Nha).
Tháng 6 (âm lịch) năm Canh Tý (1300), ông lâm bệnh, được
vua Trần Anh Tông tới thăm và hỏi về kế sách chống ngăn “giặc phương Bắc”. Chữa
mãi không khỏi bệnh, ông mất ngày 20 tháng 8 năm ấy (5 tháng 9 năm 1300), thọ
khoảng 70 tuổi.
Khi sắp mất, Trần Hưng Đạo dặn các con rằng: "Ta chết
thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườn An Lạc, rồi
san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào, lại phải làm sao
cho mau mục" [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr. 78. Xem chú thích 1]. Vì
vậy, cho đến nay, các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được mộ
phần của Trần Hưng Đạo ở đâu.
Nghe tin Trần Hưng Đạo mất, triều đình nhà Trần phong tặng
ông là "Thái sư Thượng Phụ Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương". Ông
được nhân dân cả nước tôn vinh là "Đức Thánh Trần" và lập đền thờ ở
nhiều nơi, song nổi tiếng hơn cả là Đền Kiếp Bạc ở xã Hưng Đạo (Chí Linh, Hải
Dương). Đây là nơi ông lập căn cứ, tích trữ lương thực, huấn luyện quân sĩ
trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông.
4. Tác phẩm:
Tác phẩm của Trần Hưng Đạo hiện còn:
-Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Bài văn hịch hiểu dụ các tỳ tướng,
quen gọi là Hịch tướng sĩ).
-Binh gia diệu lý yếu lược (Tóm lược chỗ cốt yếu trong
nguyên lý kỳ diệu của nhà binh, còn gọi là Binh thư yếu lược)
-Vạn Kiếp tông bí truyền thư (Sách bí truyền của tông
phái Vạn Kiếp) nhưng văn bản đã thất lạc, chỉ còn lại bài Tựa của tướng Trần
Khánh Dư đề ở đầu sách, được Đại Việt sử ký toàn thư (quyển VI) ghi lại.
4. Sử liệu liên quan:
4.1 Vì nước, quên thù nhà:
Năm Đinh Dậu (1237), Thái sư Trần Thủ Độ ép Trần Liễu
(cha Trần Hưng Đạo) phải nhường vợ là Thuận Thiên Công chúa (chị của Lý Chiêu
Hoàng) cho em ruột là vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) dù bà này đã có thai với
Trần Liễu được ba tháng, đồng giáng Lý Chiêu Hoàng (đang là Hoàng hậu) xuống
làm Công chúa. Phẫn uất, Trẫn Liễu họp quân làm loạn. Trần Thái Tông chán nản bỏ
đi lên Yên Tử. Sau Trần Liễu biết không làm gì được phải đóng giả làm người
đánh cá trốn lên thuyền vua Trần Thái Tông xin tha tội. Trần Thủ Độ biết được,
cầm gươm đến định giết Trần Liễu nhưng Thái Tông lấy thân mình che cho Trần Liễu.
Trần Liễu được tha tội nhưng quân lính theo ông đều bị giết. Mang lòng hậm hực,
Trần Liễu tìm khắp những người tài nghệ để dạy Trần Quốc Tuấn (tức Trần Hưng Đạo).
Lúc sắp mất, ông cầm tay Quốc Tuấn, trăng trối rằng: "Con không vì cha lấy
được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được". Quốc
Tuấn ghi để trong lòng, nhưng không cho là phải. Đến khi vận nước lung lay, quyền
quân quyền nước đều do ở mình, Trần Quốc Tuấn đem lời cha trăng trối để dò ý
hai thuộc tướng thân tín là Dã Tượng và Yết Kiêu. Hai người thuộc hạ ấy can rằng:
"Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay
Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia
nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu"...Trần Quốc Tuấn cảm
phục đến khóc, khen ngợi hai người.
Một hôm Trần Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ vương:
"Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào? Hưng
Vũ vương thưa: "Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!".
Trần Quốc Tuấn ngẫm cho là phải. Lại một hôm ông đem chuyện ấy hỏi người con thứ
là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa: "Tống Thái Tổ
vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ". Trần
Quốc Tuấn rút gươm kể tội: "Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà
ra" và định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc
xin chịu tội thay, Trần Quốc Tuấn mới tha. Sau đó, ông dặn Hưng Vũ vương:
"Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng"
[Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2), tr. 77-78].
Năm Ất Dậu (1285), thế quân Nguyên Mông bức bách, hai vua
Trần ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên (sông Ba Chẽ, thuộc tỉnh Quảng
Ninh ngày nay), sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn (mũi biển thuộc châu Vạn
Ninh, gần Móng Cái, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) để đánh lừa quân xâm lược. Sách
Đại Việt sử ký toàn thư kể: "Lúc ấy, xa giá nhà vua đang phiêu giạt, mà Trần
Quốc Tuấn vốn có kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh vương, nên có nhiều
người nghi ngại. Trần Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi
người đều gườm mắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống
gậy không mà đi. Còn nhiều việc nữa, đại loại như thế" [Đại Việt sử ký
toàn thư (tập 2), tr. 52].
4.2 Không tham chức, biết gạt bỏ hiềm khích riêng:
Trước kia, Trần Thánh Tông thân đi đánh giặc, Trần Quang
Khải theo hầu, ghế tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương bắc đến. Trần Thái
Tông gọi Trần Hưng Đạo tới bảo: "Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định
lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc".Trần Hưng Đạo thưa: "Việc
tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần
không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Thái sư theo hầu mà bệ
hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không
làm vui lòng Quan gia và Thượng tướng. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh
cũng chưa muộn."
Một hôm, Trần Hưng Đạo từ Vạn Kiếp tới, Trần Quang Khải
xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Trần Quang Khải vốn sợ tắm gội, Trần
Hưng Đạo thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Trần Quang Khải: "Mình mẩy cáu bẩn,
xin tắm giùm", rồi cởi áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông
và nói: "Hôm nay được tắm cho Thượng tướng". Trần Quang Khải cũng
nói: "Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho". Từ đó, tình nghĩa qua lại
giữa hai ông ngày càng thêm mặn. Bản thân làm tướng văn, tướng võ, giúp rập nhà
vua, hai ông đứng hàng đầu [Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2), tr. 70]
Sử cũ cũng kể rằng bấy giờ Hưng Vũ vương Nghiễn (là con
trai của Trần Quốc Tuấn, lại có công đánh giặc) được lấy Công chúa Thiên Thụy,
thế nhưng tướng Trần Khánh Dư lại thông dâm với Thiên Thụy, khiến nhà vua phải
xuống chiếu trách phạt và đuổi Khánh Dư về Chí Linh vì "sợ phật ý Quốc Tuấn".
Vậy mà khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Đại Việt lần thứ 3, Trần Hưng Đạo đã
gạt bỏ hiềm riêng, tin cậy "giao hết công việc biên thùy cho phó tướng Vân
Đồn là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư" khi ông này được phục chức. Ngoài ra,
khi soạn xong Vạn Kiếp tông bí truyền thư, thì Trần Khánh Dư cũng là người được
ông chọn để viết bài Tựa cho sách [Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2), tr. 46, 58
và 82.].
4.3 Khéo tiến cử người tài giỏi, kính cẩn giữ tiết làm
tôi:
Miếu thờ Hưng Đạo Vương tại thành phố Hồ Chí MinhTrần
Hưng Đạo khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước, như Dã Tượng, Yết Kiêu là
gia thần của ông, có dự công dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô. Các người nổi tiếng khác như
Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường,
Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đó về văn chương
và chính sự.
Vì có công lao lớn nên nhà vua gia phong ông là Thượng quốc
công, cho phép ông được quyền phong tước cho người khác, từ minh tự trở xuống,
chỉ có tước hầu thì phong trước rồi tâu sau. Nhưng Trần Hưng Đạo chưa bao giờ
phong tước cho một người nào. Khi quân Nguyên vào xâm chiếm nước Việt, ông lệnh
cho nhà giàu bỏ thóc ra cấp lương quân, mà cũng chỉ cho họ làm lang tướng giả
chứ không cho họ tước lang thực, ông rất kính cẩn giữ tiết làm tôi...[Đại Việt
sử ký toàn thư (tập 2), tr. 78-79]
4.4 Bị chọc vào đầu đến chảy máu, sắc mặt vẫn không thay
đổi:
Đầu năm Tân Tỵ (1281), vua Nguyên Mông là Hốt Tất Liệt lại
sai Sài Xuân đem ngàn quân hộ tống nhóm Trần Di Ái về nước. Sách Đại Việt sử ký
toàn thư chép: "Sài Xuân ngạo mạn vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương
Minh. Quân sĩ Thiên Trường ngăn lại, Xuân dùng roi ngựa quất họ bị thương ở đầu...Vua
(Trần Nhân Tông) sai Trần Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp. Xuân nằm khểnh
không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp. Hưng Đạo
Vương Quốc Tuấn nghe thấy thế, tâu xin đến sứ quán xem Xuân làm gì. Lúc ấy Quốc
Tuấn đã gọt tóc, mặc áo vải. Đến sứ quán, ông đi thẳng vào trong phòng. Xuân đứng
dậy vái chào mời ngồi. Mọi người đều kinh ngạc, có biết đâu gọt tóc, mặc áo vải
là hình dạng nhà sư phương Bắc. Ông ngồi xuống pha trà, cùng uống với hắn. Người
hầu của Xuân cầm cái tên đứng sau Quốc Tuấn, chọc vào đầu đến chảy máu, nhưng sắc
mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay đổi. Khi trở về, Xuân ra cửa tiễn
ông"...[Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2) tr. 44]
4.5 Lời tâm huyết trước khi mất:
Tháng 6 (âm lịch) năm Canh Tý (1300), Trần Hưng Đạo ốm. Vua Trần Anh Tông ngự tới nhà thăm, hỏi
rằng: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế
sách như thế nào?". Ông trả lời: "Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà)
dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà
trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản
binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người
tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới
một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là
một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt
đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt
bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt.
Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh.
Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó
kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không
cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ
vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được.
Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước
vậy" [Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2) tr. 76-77].
5. Vợ, con:
Trần Hưng Đạo cưới Công chúa Thiên Thành làm vợ. Bà là
con gái út của Trần Thừa, tức cũng là cô ruột của Trần Hưng Đạo [2]. Sau, bà được
phong tước là Nguyên Từ quốc mẫu, và mất vào tháng 9 (âm lịch) năm Mậu Tý
(1288). Bà sinh hạ cả tất cả 5 người con, gồm 1 gái và 4 trai:
-Một gái đầu lòng tên là Trinh, thường gọi là Trinh Công
chúa, sau trở thành vợ của vua Trần Nhân Tông, tức Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu,
rồi sinh ra con là vua Trần Anh Tông sau này.
Bốn trai (không rõ thứ bậc), đều là võ tướng có tài, từng
theo cha đánh đuổi quân Nguyên Mông, đó là:
-Trần Quốc Nghiễn, tước Hưng Vũ vương: Ông cưới Công chúa
Thiên Thụy, trở thành Phò mã của vua Trần Thánh Tông. Sau khi đánh đuổi quân
Nguyên Mông, tháng 4 (âm lịch) năm 1289, ông được phong làm Khai Quốc công.
-Trần Quốc Hiện, tước Hưng Trí vương: Khi xét công đánh
đuổi, ông không được thăng trật, vì “đã có chiếu cho người Nguyên về nước, các
tướng không được cản trở, mà lại còn đón đánh chúng”. Ông cũng là người có công
tổ chức khẩn hoang nhiều vùng đất hoang vu của khu vực tỉnh Hải Dương ngày nay.
-Trần Quốc Tảng, tước Hưng Nhượng vương: Khi xét công,
ông được phong làm Tiết độ sứ. Ông có con gái gả cho vua Trần Anh Tông, tức Thuận
Thánh Hoàng hậu..
-Trần Quốc Uất, tước Minh Hiến vương: Chưa có thông tin,
chỉ biết vào cuối năm 1284, ông cùng với các anh em "đốc suất 20 vạn quân
các xứ đến hội ở Vạn Kiếp, theo quyền điều khiển của cha". Tuy nhiên, sách
Đại Việt sử ký toàn thư không nhắc đến tên ông khi xét công đánh đuổi quân xâm
lược.
Ngoài ra, Trần Hưng Đạo còn có một người con gái nuôi, đó
là Nguyên Công chúa, sau là vợ của danh tướng Phạm Ngũ Lão [3].
*
Dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, quân đội nhà Trần đã
vượt qua vô vàn khó khăn và hiểm nguy, ba lần đánh tan hàng vạn quân Nguyên
Mông xâm lược, giành thắng lợi lẫy lừng, “tiếng vang đến phương Bắc, khiến
chúng thường gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi thẳng tên”. Công
lao to lớn này đã đưa ông lên hàng “thiên tài quân sự có tầm chiến lược, và là
một anh hùng dân tộc bậc nhất của nhà Trần”.
Là một Tiết chế đầy tài năng, khi "dụng binh biết đợi
thời, biết thừa thế tiến thoái", đặc biệt là có một có một lòng tin sắt đá
vào sức mạnh và ý chí của nhân dân, của tướng sĩ, nên Trần Hưng Đạo đã đề ra một
đường lối kháng chiến ưu việt, tiêu biểu là các cuộc rút lui chiến lược khỏi
kinh thành Thăng Long, để bảo toàn lực lượng. Kế hoạch "thanh dã" (vườn
không nhà trống) và những hoạt động phối hợp nhịp nhàng giữa “hương binh” và
quân triều đình, những trận tập kích và phục kích có ý nghĩa quyết định đối cả
chiến dịch như ở Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vân Đồn, và nhất là ở Bạch Đằng...đã
làm cho tên tuổi ông bất tử.
Có thể nói tư tưởng quán xuyến suốt đời của Trần Hưng Đạo,
là một tấm lòng tận tụy đối với đất nước, là ý muốn đoàn kết mọi tầng lớp trong
dân tộc thành một lực lượng thống nhất, là tinh thần yêu thương dân. Cho nên
trước khi mất, ông vẫn còn dặn vua Trần Anh Tông rằng: "Phải nới sức dân để
làm kế sâu rễ bền gốc" cho sự nghiệp lâu dài của nước nhà [theo GS. Nguyễn
Huệ Chi].
Vì thế, các cây đại bút thời Trần như Bùi Tông Quán, Phạm
Sư Mạnh, Lý Tế Xuyên, Trương Hán Siêu, v.v...đều có những sáng tác viết về Trần
Hưng Đạo. Các nhà khoa bảng sau đó, như Đặng Minh Khiêm (thời Lê), Cao Bá Quát
(thời Nguyễn),v.v...cũng thường dành cho ông những lời đặc biệt kính trọng. Dưới
đây giới thiệu hai bài:
Đặng Minh Khiêm (? -1585) viết:
Sinh phùng gia hấn thệ thâu trung,
Mậu kiến Trùng Hưng đệ nhất công.
Một hậu uy do tồi Bắc lỗ,
Ỷ thiên trường kiến da minh phong.
Dịch nghĩa:
Sinh vào lúc gia đình
có sự hiềm khích nhưng vẫn thề giữ đức trung thành,
Giúp nên cơ nghiệp
Trùng Hưng công lao hàng bậc nhất.
Dẫu đã mất mà uy
phong còn bẻ gãy giặc Bắc.
Thanh kiếm dài tựa
ngoài trời thuở xưa, đêm đêm thường rít lên như gió.
Cao Bá Quát (1809-1855) viết:
Phổ xuất tiên nguyên cái thế hào,
Phấn thân tuẫn quốc bất từ lao.
Xanh phù nhật cốc khâm hoài nhuệ,
Tấn tảo biên trần thủ đoạn cao.
Công mãn Nam
thiên thùy trúc bạch,
Uy dư Đông Hải thiếp ba đào.
Phần Dương khánh diễn hồn dư sự,
Trường sử Hồ nhi thức tuấn mao.
Dịch nghĩa:
Là đấng anh hào bậc
nhất trong đời, vốn dòng dõi nhà tiên,
Dấn mình vì nước chẳng
nề khó nhọc.
Nâng đỡ xe mặt trời
lòng những hăng hái,
Quét sạch bụi ngoài
cõi, mưu lược thật cao siêu.
Công cao đầy cả trời
Nam, lưu truyền sử sách,
Uy linh khắp biển
Đông, sóng cả yên lặng.
Ân trạch ở Phần Dương
có sánh cũng bằng thừa.
Mãi khiến giặc Hồ phải
biết tay tài giỏi .
Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1]Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2, tr. 21). Triều Trần có lệ cho người
trong họ lấy nhau nên mới có cuộc hôn nhân lạ lùng này (ý kiến của GS. Nguyễn
Khắc Thuần, tr. 98).
[2] Tên và tước phong các người con của Hưng Đạo Vương
chép theo Đại Việt sử ký toàn thư (tr. 49). Danh tướng Việt Nam (tập 1, tr.
98-99) chép khác.
Sách tham khảo chính:
-Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư (bản dịch, tập 2).
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1985.
-Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Tân Việt,
Sài Gòn, 1968.
-Nguyễn Huệ Chi, mục từ “Trần Quốc Tuấn” trong Từ điển
văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Nguyển Khắc Thuần, Danh tướng Việt Nam (tập 1). Nhà xuất
bản Giáo dục, 2006.
-Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển.
Nhà xuất bản Hồn thiêng, Sài Gòn, 1966.
-Mục từ "Trần Hưng Đạo" trong Từ điển bách khoa
Việt Nam.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


