Hình ảnh

Hình ảnh

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

Mả Ngụy ở đâu?


Bản đồ mô tả vị trí Mả Ngụy

Mả Ngụy hay Mả Biền Tru [1] là một mồ chôn tập thể những người tham gia hoặc liên quan cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi (1833-1835) ở thành Phiên An (còn gọi là thành Gia Định, thành Sài Gòn).

Cuộc khởi nghĩa ban đầu thành công, quân nổi dậy đã chiếm được thành Phiên An và các tỉnh Nam Kỳ. Song đến ngày 16 tháng 7 năm Ất Mùi (tức 8 tháng 9 năm 1835), khi quân triều đình chia làm 8 mũi, tấn công ồ ạt vào thành, quân nổi dậy chống cự không nổi, bị thua trận. Quân nổi dậy và dân chúng (gồm già trẻ, trai gái) ở trong và bên ngoài thành vài dặm, cả thảy 1.831 người đều bị giết chết và chôn chung một chỗ, và gọi là Mả Ngụy hay Mả Biền Tru [2].

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (mục Lê Văn Khôi), chép:...Bè đảng a dua, không cứ già trẻ trai gái, ở trong và ở vài dặm ngoài thành (đều) chém ngay, rồi đào một hố to vất thây lấp đất, chồng đá làm gò dựng bia khắc đây là “nơi bọn nghịch tặc bị giết, để tỏ quốc pháp” [3].

Vị trí ngôi mộ chung đó, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, nằm ở gần Mô Súng, tức khoảng gần Ngã Sáu (Công trường Dân Chủ), thuộc Thành phố Hồ Chí Minh [4].

Tác giả Nguyễn Thanh còn cho biết thêm rằng, khu vực này khi xưa là một cánh đồng rộng lớn, hoang vu với nhiều lùm cây cỏ um tùm, mang tên là Đồng Tập Trận hay còn gọi là Mô Súng [5]; và vị trí ngôi mộ chung ở khoảng gần bệnh viện Bình Dân trên đường Điện Biên Phủ ngày nay [6].

Cũng trên cánh đồng này, khi xưa vào ngày mồng 6 tháng Giêng hàng năm, Tổng trấn Gia Định đều cho cử hành lễ “xuất binh” tại đây. Và cũng chính nơi đây, Phan Xích Long và 56 đồng đội đã bị quân Pháp xử bắn, sau khi cuộc khởi nghĩa nổ ra tại Sài Gòn vào tháng 2 năm 1916 thất bại [7].
Bùi Thụy Đào Nguyên, tổng hợp tài liệu.

Chú thích:
[1] Ngụy ở đây có nghĩa là giặc, là (quân) làm loạn. Biền tru là tru diệt ngay, không cần xét xử.
[2] Con số biên theo Quốc triều chính biên toát yếu do Quốc sử quán triều Nguyễn tổ chức biên soạn (NXB Văn học, 2002, tr. 252). Có nguồn chép hơi khác.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện, NXB Văn học, 2004, tr. 1038-1039.
[4] Nguyễn Đình Đầu, "Địa lý lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh" in trong Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Tập 1, phần lịch sử), tr. 211.
[5] Gọi là Đồng Tập Trận vì đây là nơi dùng để thao dượt binh sĩ (tập trận), gọi là Mô Súng vì ở đây có mô đất cao đặt súng lớn. Trong bài "Cổ Gia Định phong cảnh vịnh", có câu: Đồng Tập Trận rộng cả ngàn, coi xấp xỉ bằng Thái nguyên dã / Mô Súng đắp cao trật gót, nhắm sâm si dường vọng vân đài.
[6] [6] Theo chú thích trong ''Sài Gòn năm xưa'' của Vương Hồng Sển, thì Mả Ngụy cũng ở khoảng bệnh viện Bình Dân (thuộc quận 3), và nó nằm phía tay mặt đường Điện Biên Phủ (thuộc quận 10) tức bên đối diện với bệnh viện (NXB. TPHCM, 1991, tr. 154).(NXB. TPHCM, 1991, tr. 154).
[7] Nguyễn Thanh, Thành phố bất khuất. Nhà xuất bản TP. HCM, 1984, tr. 43.

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Danh tướng triều Nguyễn: Ông Ích Khiêm


Mộ Ông Ích Khiêm

Ông Ích Khiêm (翁益謙, 1831-1884 [1]) tự Mục Chi, là danh tướng nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Ông sinh ngày 21 tháng 12 năm Mậu Tý (tức 25 tháng 1 năm 1829) tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là khu vực Phong Lệ Bắc, phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).

Tổ tiên Ông Ích Khiêm [2] vốn là người dân tộc miền núi xuống định cư làm ruộng ở miền xuôi. Cha ông là Ông Văn Điều và mẹ là Võ Thị Cốt. Sinh ra trong một gia đình nông dân đông con, gồm 8 trai 5 gái, ông Khiêm là người con thứ tư sau ba chị gái, nhưng lại là người con trai đầu.

Thuở nhỏ, ông vừa chăn trâu cắt cỏ, vừa theo học với người chú là Ông Văn Trị. Ông thông minh, chăm học nhưng cũng rất nghịch ngợm. Khi lớn lên, ngoài tài gồm văn võ, ông còn nổi tiếng là người chính trực, là một vị tướng khẳng khái, mưu lược và biết thương yêu quân sĩ.

Thăng trầm nghiệp quan
Năm Thiệu Trị thứ 7 (Đinh Mùi, 1847), ông đỗ cử nhân tại trường Hương Bình Định, nhờ sự sáng suốt của quan chủ khảo Vũ Duy Thanh (1807-1859). Ông Thanh đã quyết cho đỗ với lời phê rằng: “Bài này tuy lời văn không được chải chuốt, chữ viết xấu nhưng ý tứ dồi dào. Qua bài này, ta thấy thí sinh phải là người có lòng yêu dân thương nước cao, có chí ngang tàng, có lòng cương trực thì mới viết được như thế” [3]
Sử nhà Nguyễn là "Đại Nam chính biên liệt truyện " chép:
"Ông Ích Khiêm đỗ hương tiến (tức cử nhân) mới 15 tuổi. Vua Thiệu Trị cho mời vào điện cho thử lại bằng bài thơ lấy đầu đề là “Thiếu niên đăng cao khoa” (Tuổi trẻ đỗ cao). Bài làm của ông được vua ban khen (tr. 812).

Đỗ cử nhân, ông được bổ làm Tri huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Năm Tự Đức thứ 15 (1862), vì can việc thu chi tiền tu tạo huyện lỵ nên bị cách chức. Gặp lúc quân Tạ Văn Phụng ở Hải An kéo đi đánh phá, ông xin mộ binh đi theo quân thứ lập công chuộc tội, được khởi phục lại hàm Tri huyện, sung Vệ hiệp quản Chiến sĩ. Có công, ông được thăng làm Tri phủ sung Đốc binh.

Tháng 5 (âm lịch) năm 1865, quân Tạ Văn Phụng kéo đến đánh phá các đồn ở Quỳnh Lâu, An Trì thuộc tỉnh Quảng Yên; Ông Ích Khiêm mang quân phá được, lại cùng với Phó Vệ úy Phan Đình Thỏa mang quân thu phục được thành phủ Hải Ninh, nên được thăng Thị độc sung Tán tương. Đến khi quan quân khải hoàn, ông được cất lên chức Hồng lô tự khanh Biện lý bộ Lễ.

Tháng 6 (âm lịch) năm 1867, xét công, vua Tự Ðức thăng ông làm Thị lang bộ Binh. Sang tháng sau, gặp lúc tên phạm trốn bên đất nhà Thanh (Trung Quốc) là Vi Tái Thọ tụ đảng ở Bắc Ninh, nhà vua bèn sung ông làm Bắc Ninh Tiễu phủ sứ để đi đánh dẹp (nên ông còn được gọi là Tiễu Phong Lệ hay quan Tiễu).

Việc xong, nhưng ít lâu sau (1868), Ngô Côn (là dư đảng của Hồng Tú Toàn) kéo quân đến đánh chiếm thành tỉnh Cao Bằng. Triều đình sai Tổng đốc Ninh Thái là Phạm Chi Hương viết thư cầu cứu nhà Thanh. Vua nhà Thanh bèn sai Phó tuớng Tạ Kế Quý, đem quân sang giúp. Nhân đó Ông Ích Khiêm được đổi sang làm Tán lý quân thứ Lạng Bình, để cùng với Đề đốc Nguyễn Viết Thành và Phó tuớng Tạ Kế Quý mang lực lượng đi đánh phá quân của Ngô Côn ở Thất Khê (Lạng Sơn). Lập công, ông được thưởng. Sau vì để quân đi đốt nhà cướp của, bị khép vào tội đồ, nhưng cho lấy công chuộc tội.

Năm 1869, Ngô Côn xua quân đi vây đánh thành tỉnh Bắc Ninh. Hay tin, từ huyện Kim Anh (nay là một phần huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), Ông Ích Khiêm đem binh voi đến chống trả. Ngô Côn bị trúng đạn lạc, tử trận [4], thành được giải vây, ông được khởi phục hàm Bố chính sung Tán lý. Sau đó, ông mang quân đi truy đuổi tàn quân của Ngô Côn, thắng thêm mấy trận nữa.

Năm 1870, Ông Ích Khiêm cùng Tham tán Lê Bá Thận phá tan quân của Hoàng Vân ở rừng Lục Ngạn, được thăng Tham tri bộ Binh, đổi sang làm Tán lý Lạng Bình, ít lâu sau thăng lên Tham tán. Bấy giờ quân Tô Tứ (sử Nguyễn gọi là “giặc Khách” hay phỉ”) nửa đêm đến chiếm cứ thành tỉnh Lạng Sơn. Khâm sai Võ Trọng Bình chạy thoát, Trung quân Ðoàn Thọ bị giết chết. Nhận lệnh, Ông Ích Khiêm đem đại bác đến đánh vào cửa đông thành. Bị quân Tô Tứ bắn trả, ông bị thương ở chân, bèn cho quân rút về Hải Dương. Không làm tròn trách nhiệm, ông bị giáng xuống làm Quang Lộc tự khanh, song vẫn sung làm Tán lý.

Năm 1871, Ông Ích Khiêm ở quân thứ Đông Triều (Quảng Ninh) đánh thắng quân Tô Tứ được mấy trận. Mùa hè năm ấy, quân Tô Tứ đến đánh Sơn Tây, ông liền được thăng Thị lang gia hàm Tham Tri đổi làm Tham tán quân thứ Sơn Tây, để lo việc đánh dẹp.

Tháng 2 (âm lịch) năm 1872, ông cùng Tán tương Nguyễn Di phá tan sào huyệt của quân “phỉ” [5] ở Quán Tư, lấy lại huyện Trấn Yên (hay Trấn An, nay thuộc Yên Bái), được khen thưởng; nhưng ít lâu sau, đánh thua ở Đại Đồng, bị cách chức lưu dụng.

Năm 1873, quân “phỉ” đến vây hãm đồn Phong Đăng, Khâm mạng Nguyễn Tri Phương và Thống đốc Hoàng Tá Viêm muốn nhân cơ hội này đánh úp sào huyệt của họ ở Đại Đồng, nên cho đòi các đạo binh đến góp sức. Ông Ích Khiêm vốn bất hòa với Hoàng Tá Viêm, bèn lấy cớ “phỉ đông, đường hiểm, lại có bệnh” xin không tham gia. Nguyễn Tri Phương cho là ông không tuân tướng lệnh, giao ông cho quân thứ Tuyên Quang sai phái. Sau, vì có bệnh ông xin trở về quê.

Năm 1874, Tổng đốc mới Hải Dương là Phạm Phú Thứ (là người cùng huyện với ông), nhân về thăm quê có ghé thăm ông. Rồi nhờ lời tâu của ông Thứ, mà ông được bổ làm Tán tương quân thứ Bắc Ninh vào đầu năm 1875. Đến nơi, ông đánh quân “phỉ” ở Yên Định, bị tổn hại nhiều nên tự ý thu quân về. Tướng Tôn Thất Thuyết thấy vậy bèn sai quân bắt giam ông, cho áp giải về kinh chờ án. Nhân mắc bệnh “tâm hỏa”, ông được cho về nhà [6].

Tháng 3 (âm lịch) năm 1882, vua Tự Đức thấy Ông Ích Khiêm giỏi giang, bấy lâu vất vả, tuy rằng có “dõng mà không có lễ”[7], cho ông làm Hồng lô tự khanh làm Biện lý bộ Hộ, rồi cất làm Thị lang sung Tham lược kinh kỳ, coi đắp đồn Thái Dương và Lộ Châu. Ý muốn làm mau xong, ông có hành động quá nghiêm khắc với dân binh, bị vua khiển trách, giáng làm Chủ sự, cho dời đi phòng thủ ở đồn Hòa Quân, nhưng chưa bao lâu được phục hàm Thị giảng tham biện phòng vụ.

Tháng 6 (âm lịch) vua Tự Đức mất. Sau đó, Ông Ích Khiêm được giao trấn giữ cửa biển Thuận An để bảo vệ kinh thành Huế. Trước thế lực mạnh của quân Pháp, ông không thể làm tròn trách nhiệm, bị đổi sang làm Biện lý bộ Lễ. Cuối tháng 10 (âm lịch) năm ấy, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lại mưu việc phế lập, mới mật bảo Ông Ích Khiêm và Trương Đăng Thê mời vua Hiệp Hòa đến nha Hộ Thành, ép uống thuốc độc giết chết.

Đầu niên hiệu Kiến Phúc (1884), thăng ông làm Thị lang, tước Kiên Trung nam. Sau đó, ông dẫn quân đi tiễu trừ cuộc nổi dậy của dân thiểu số ở Trà My (Quảng Nam) [7].

Chết trong ngục
Dẹp yên xong, tháng 5 (âm lịch) năm 1884, Ông Ích Khiêm đem 50 lính đi thẳng về quê nhà (Quảng Nam). Bị Ngự sử Đào Hữu Ích đàn hặc là ”tự tiện bắt binh mã đi, giao thông với phủ đệ” [8] nên ông bị, ông bị cách chức đày đi an trí ở Bình Thuận.

Tháng 6 (âm lịch) năm ấy (1884), vua Kiến Phúc mất đột ngột. Theo Nguyễn Văn Xuân thì cái chết này khiến trong và ngoài triều hết sức xôn xao. Ở trong ngục Bình Thuận, Ích Khiêm hay tin, liền nhịn đói luôn bốn ngày, viết di chúc rồi uống thuốc độc mất. Trong di chúc có câu: “Vua (bị) nhục, thì thần phải chết...(Nay) ta lấy tháng 7 (âm lịch), ngày 19 làm ngày bài tử (ngày chết) vậy”. Năm ấy, ông 53 tuổi.

Năm 1885, vua Hàm Nghi truy phục cho ông hàm Thị độc.

Thơ Ông Ích Khiêm
Sinh thời, ông thích làm thơ, nhưng tác phẩm đã thất lạc gần hết. Sau đây là hai trong số bài thơ còn sót lại của ông.

Làm khi thấy quân Cờ đen cậy thế sách nhiễu dân:

Áo chúa cơm vua đã bấy lâu
Ðến khi có giặc phải thuê Tàu!
Từng phen võng giá mau chân nhẩy
Ðến buớc chông gai thấy mặt đâu
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu de ngày hiến đứa răng bầu
Ai ôi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu.

Làm khi bị an trí ở Bình Thuận:
Mình ốc mang rêu rửa sạch ai,
Rung cây nhát khỉ thói quen hoài.
Mèo quào phên đất chi khờn sức,
Sứa vượt qua đăng mới gọi tài.
Cậy mạnh chớ quen rờ dái ngựa,
Mình cao đừng ỷ đứng đầu voi.
Truông qua chứa khỏi đừng khinh khái (cọp)
Chim xổ lồng ra để đó coi![9]

Luận bàn
(Chỉ để tham khảo)

-Vua Tự Đức:
Ngươi (Ông Ích Khiêm) vốn là người học thức mà ra, phải cái tính khí cương cường nóng nảy, phàm việc không chịu ở sau người…Việc ngươi đánh dẹp bọn phỉ ở tỉnh Bắc, khí tiết, công lao, trẫm đều rõ hết…Thế mà gần đây được tin là ngươi đến đâu phần nhiều dung túng cho quân sĩ làm càn. Nếu quả thực như vậy thời dân còn trông mong gì nữa!...Nếu ngươi còn hối cải để khỏi phụ cái ơn tri ngộ, thì là điều mà trẫm rất mong mỏi. Bằng cứ còn võ biền, quên lời ân cần dạy bảo, thời trẫm phó mặc ngươi cho công luân triều đình, dù ngươi có tài cũng không tha luôn mãi được...[10]

-Phụ chính Nguyễn Văn Tường:
Ông Ích Khiêm, khí chất hung hãn, hơn mười năm nay từng trải trăm trận, tuy trong khoảng đó có lúc cậy công nhưng gặp lúc hiểm nghèo đã vâng mệnh, lâm cơ ứng biến, binh lính đều chịu sai phái, kẻ địch cũng sợ hãi cho nên các bầy tôi ở quân thứ hiện nay không ai vượt qua. Nếu gặp được vị thống soái tài hiểu biết, có uy vọng hơn hẳn thì có thể làm cho ông ta kính sợ, mới có thể từ bỏ hết lỗi lầm mà tỏ rõ công lao, đó cũng là vị lương tướng ngày nay vậy. Duy tài lộ ra ở khí, hàm dưỡng chưa sâu, mà kẻ đồng sự lại chưa có ai hơn mình, cho nên vì khinh nhờn mà sinh kiêu căng, vì cưỡng cường mà sinh ngỗ ngược, đến nỗi tự mắc vào lỗi lầm đáng tiếc...[11].

-Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân:
Sống bộc trực, ngang bướng như thế giữa cái hoàn cảnh hỗn loạn, tiêu cực cuối đời Tự Đức làm sao Ông Ích Khiêm có thể tránh được cái hậu quả tất yếu là bị dồn vào cõi chết ở Bình Thuận...[12]

-GS. Nguyễn Khắc Thuần:
Ông Ích Khiêm là bậc lừng danh văn võ song toàn, công minh chính trị, không kiêng sợ bất cứ một ai...Ông xứng đáng là một trong những biểu tượng của lòng cương trực và của khí phách ngoan cường [13].

Tuy nhiên, nhà văn Phan Khôi lại cho rằng:

Ông Ích Khiêm vốn là tay có tài, nhưng có tánh kiêu ngạo, khinh đời, vô lễ, hay làm những sự bướng bỉnh, thì đã đành rồi. Nói đến cái tâm địa và cái khí tiết của ông, thì cũng lại là không ra chi...Nguyên ông Khiêm từ khi ở Bắc Kỳ về, sau lúc vua Dực Tôn (Tự Đức) băng rồi thì ổng theo phe với ông Tường ông Thuyết mà gây ra những việc loạn trào. Chính mình ông Khiêm đã vâng mạng Tường, Thuyết mà giết vua Hiệp Hòa, chớ ai?
Ông Khiêm hồi đầu theo Tường-Thuyết, song sau lại bị Tường-Thuyết xiềng mà đày đi, điều ấy không lấy gì làm lạ. Bởi vì, Tường-Thuyết thấy Khiêm làm được việc thí quân mà không gớm tay, sợ để rồi có ngày lại quay mà cắn lại mình, cho nên sau khi xong việc vua Hiệp Hòa rồi, Tường-Thuyết phải trừ ông Khiêm...Bấy giờ lại có câu phong dao nầy tưởng là phê bình đúng lắm: Nước Nam có bốn anh hùng/ Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu![14].

Mộ phần và con cháu
Ông Ích Khiêm mất, con trai ông là Ông Ích Thiện đã đưa cha về mai táng ở làng Phong Lệ. Đến năm Bảo Đại thứ 13 (1938) thi hài ông được cải táng về Gò Mô (Đà Nẵng). Ngôi mộ ông được xây theo hình bát giác, phía trước có nhà bia, bên trong đặt một tấm bia bằng đá cẩm thạch, cao 0,83m, rộng 0,54m được trang trí hình rồng, phụng và hoa lá.

Lăng mộ Ông Ích Khiêm được Bộ Văn hóa-Thông tin công nhận là di tích cấp quốc gia vào ngày 12 tháng 7 năm 2001.

Các con ông là Ông Ích Hoắc, Ông Tán Nhì đều là nghĩa quân kháng Pháp dưới sự lãnh đạo Nguyễn Duy Hiệu. Cháu ông là Ông Ích Đường (1884-1908) cũng là một liệt sĩ chống Pháp thời cận đại.


Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Chép theo Nguyễn Khắc Thuần (Lần giở trước đèn, Nxb Thanh niên, 2003, tr. 228) và Từ điển nhân vật lịch Việt Nam (tr. 724) . Có nguồn ghi sinh năm 1829. Gia phả biên ông mất ngày 19 tháng 7 năm Quý Mùi (tức 21 tháng 8 năm 1883) Ông Ích Khiêm là sai vì tháng 11 năm đó, ông vẫn còn sống để nhận lệnh giết vua Hiệp Hòa. Biên ông mất 1884 là phù hợp với Đại Nam chính biên liệt truyện và Nguyễn Văn Xuân (Sự kiện Ông Ích Khiêm tự sát ở Bình Thuận, tr. 93).
[2] Tổ tiên nhiều đời mang họ Ông (螉). Sau này, vua Tự Đức cho bỏ chữ trùng (虫) một bên, thành chữ Ông (翁), từ đó có dòng họ Ông Ích tại Quảng Nam.
[3] Theo Thái Vũ, Chuyện hay nhớ mãi, Nxb Thuận Hóa, 1987, tr. 189-193.
[4] Chép theo Liệt truyện (tr. 814). Theo Việt Nam sử lược (tr. 507), đến cuối năm Canh Ngọ (1870), Ông Ích Khiêm mới giết được Ngô Côn.
[5] Liệt truyện chép không rõ ràng, nên chưa biết quân của phe phái nào. Tra trong Việt Nam sử lược (tr. 508) thì thấy tình hình ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ rất rối ren. Ở Quảng Yên có quân Hoàng Tề nổi lên, thông đồng với Tô Tứ và quân Tàu Ô ở ngoài bể; ở mạn thượng du thì có quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc và quân Cờ vàng của Hoàng Sùng Anh luôn quấy nhiễu.
[6] Theo Liệt truyện (tr. 815), Toát yếu ghi là “bị chứng điên” (tr. 472).
[7] Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân (người cùng quê với Ông Ích Khiêm), thì đây là ý đồ của ông Tường và ông Thuyết, vì thấy ông Khiêm được vua Kiến Phúc yêu mến, và cũng vì muốn loại ông ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo ở Huế (tr. 91 và 94).
[8] Bị đàn hặc tội “giao thông với phủ đệ”, vì có nàng công chúa “xấu hoắc cứ bu riết lấy Ích Khiêm” (theo Nguyễn Văn Xuân, tr. 93). Cũng theo ông Xuân, thì đây lại là cái cớ để ông Tường và ông Thuyết loại trừ ông.
[9] Nguyễn Văn Xuân nói về bài thơ này như sau: "Bài thơ có đặc điểm là mỗi câu dùng dùng tên một con vật, và mỗi câu có dùng một thành ngữ hoặc tục ngữ. Hai câu thực và kết, tác giả có ý hăm dọa chính kẻ đày đọa mình, tức phe ông Tường và ông Thuyết".
[10] Trích dụ của Tự Đức, in toàn bài trong Liệt truyện, tr. 817-818.
[11]Trích Bắc Kỳ tấu nghị ngày 20 tháng 6 năm Tự Đức 26 (1873), in trong "Nguyễn Văn Tường, cuộc đời và lời giải", tr. 37.
[12]Hương Giang cố sự, Tủ sách Sông Hương, 1986, tr.31-33.
[13]Lần giở trước đèn, sách đã dẫn, tr. 228-229.
[14] Phan Khôi, “Cải chính một điều lầm lẫn trong bài Dật sự Ông Ích Khiêm”. Lý giải về hai câu trên, PGS. TS. Đỗ Bang có ý khác: Sau ngày kinh đô thất thủ, phe thân Pháp và tay sai nắm quyền, các vị này thất thế bị rơi vào thế đối lập chống lại triều đình...Danh dự của các ông bị bôi nhọ, xuyên tạc ngay tại Huế...Bia miệng độc ác và nghịch lý nhất là khi đem sự nghiệp của các ông ra làm điều giễu cợt. (Nguyễn Văn Tường, cuộc đời và lời giải, tr. 12).



Sách tham khảo chính:
-Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch, gọi tắt là Liệt truyện). Nhà xuất bản Văn học, 2004.
-Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu (bản dịch, gọi tắt là Toát yếu). Nhà xuất bản Văn học, 2002.
-Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1968.
-Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.
-Nguyễn Văn Xuân, "Sự kiện Ông Ích Khiêm tự sát ở Bình Thuận" in trong Nguyễn Văn Xuân, một người Quảng Nam. Nhà xuất bản Thời đại, Hà Nội, 2010.
- Đỗ Bang (chủ biên), "Nguyễn Văn Tường, cuộc đời và lời giải. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

Giới thiệu Toàn Việt thi lục

Toàn Việt thi lục (Sao lục toàn tập thơ Việt) [1] là bộ hợp tuyển thơ chữ Hán của Việt Nam do Lê Quý Đôn biên tập và hoàn thành năm 1768.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí (Văn tịch chí) của Phan Huy Chú, sách gồm 20 quyển, do Lê Quý Đôn vâng chỉ biên tập, chép từ nhà Lý đến đời Hồng Đức (1470-1497, đời vua Lê Thánh Tông).

Bộ sách được khởi soạn và hoàn thành chỉ trong vòng một năm (1768), chưa được khắc in, các bản chép tay hiện còn không thống nhất. Theo GS. Trần Văn Giáp, ở Thư viện Khoa học xã hội (Hà Nội) hiện còn lưu giữ 8 bản sao chép tay, song bản mang ký hiệu A. 1262 "có lẽ là bản đầy đủ và đáng tin hơn cả".

Theo bản này, thì bộ sách hiện chỉ còn 15 quyển (thiếu 5 quyển sau cùng), đóng thành 5 tập, giấy bản cũ (22 x 13,5cm), viết chữ thảo lối cổ. Đầu quyển I có bài Lệ ngôn của tác giả thứ đến là Mục lục.

Trích một đoạn Lệ Ngôn của tác giả (Lê Quý Đôn) nói về nội dung và thể lệ làm sách:
...Thơ của nước ta, nào thơ của vua, các quan, các vị sư, các nho sĩ, không phải là ít và không hay...nhưng tán lạc mất nhiều. Nay tôi vâng mệnh chỉ biên tập lại thành sách, theo thứ tự thời đại, chia ra trước sau, tập hợp thành từng quyển. Trước hết là thơ của các vua quan triều Lý, Trần. Từ quyển thứ 5, thứ 6 thì chép thơ của các vua triều Lê, còn thơ của các quan triều Lê thì chép từ quyển thứ 7 trở xuống.
Phân loại các bài thơ thì theo lối "Toàn Đường thi" [3], xếp thành hai loại: cổ thể và cận thể. :Dưới tên các nhà thơ có ghi chép sơ lược lý lịch...nếu không rõ thì để khuyết lại. Lựa lọc thơ thì thu thập bất cứ của ai,...Nội dung thì bài nào có ý nghĩa, đúng thể tài thì lượm lấy, không câu nệ ở từng câu từng chữ...Các câu thơ của các vị sư, tuy ít mà hay, thì cũng biên vào tập. Các bài thơ của phụ nữ mà đực truyền tụng, đều có thu lượm. Sau cùng phụ chép cả thơ của các sứ thần Trung Quốc và của người nước ngoài, như thơ của sứ thần Triều Tiên trao đổi với sứ thần của ta ở Trung Quốc...

Phần Mục lục, gồm:
-Quyển I gồm thơ đời nhà Lý (số nhà thơ: 2, số bài thơ: 4), các vua nhà Trần và nhà Hồ (số nhà thơ: 8, số bài thơ: 73).
-Quyển II gồm thơ các tác giả đời Lý (số nhà thơ: 1, số bài thơ: 3) và đời Trần (số nhà thơ: 24, số bài thơ: 148).
-Quyển III gồm thơ các tác giả đời Trần (số nhà thơ: 15, số bài thơ: 148).
-Quyển IV gồm thơ các tác giả đời Hồ (số nhà thơ: 6, số bài thơ: 139), đời Hậu Trần (số nhà thơ: 2, số bài thơ: 2), các nhà sư (số nhà thơ: 11, số bài thơ: 36),
-Quyển V gồm thơ các vua nhà Hậu Lê (số nhà thơ: 3, số bài thơ: 145).
-Quyển VI gồm thơ các vua nhà Hậu Lê (số nhà thơ: 3, số bài thơ: 228).
-Quyển VII gồm thơ các tác giả đời Hậu Lê (số nhà thơ: 4, số bài thơ: 177).
-Quyển VIII gồm thơ các tác giả đời Hậu Lê (số nhà thơ: 2, số bài thơ: 160).
-Quyển IX gồm thơ các tác giả đời Hậu Lê (số nhà thơ: 28, số bài thơ: 138).
-Quyển X gồm thơ các tác giả đời Hậu Lê (số nhà thơ: 14, số bài thơ: 52).
-Quyển XI gồm thơ các tác giả đời Hậu Lê (số nhà thơ: 16, số bài thơ: 156).
-Quyển XII gồm thơ các tác giả đời Hậu Lê (số nhà thơ: 1, số bài thơ: 160).
-Quyển XIII gồm thơ các tác giả đời Hậu Lê (số nhà thơ: 5, số bài thơ: 184).
-Quyển XIV gồm thơ các tác giả đời Hậu Lê (số nhà thơ: 20, số bài thơ: 163).
-Quyển XV gồm thơ các tác giả đời Hậu Lê (số nhà thơ: 10, số bài thơ: 216).

Tổng cộng gồm 175 nhà thơ và 1.779 bài thơ, trong đó có 21 bài khuyết danh.

Theo GS. Trần Văn Giáp thì bản sách này còn thiếu 5 quyển, từ 16 đến 20 và Phụ lục. Ông viết:
Trong 5 quyển thiếu đó có ghi một số thơ từ của các nho sĩ thường dân, của các nhà sư, của các nữ thi sĩ các triều đại và của các sứ thần Trung Quốc sang ta, của các sứ giả Triều Tiên trao đổi với các sứ giả ta khi gặp nhau ở Trung Quốc... đã trích Dù thiếu, nhưng đây là bản đáng tin nhất, vì chữ viết cũng như khuôn khổ sách đều cổ nhất, đúng lối triều Lê. Còn 7 bản khác chỉ là sao chép nhau, chỉ có bản mang ký hiệu A. 132 là có vẻ đầu đủ hơn, nhưng số quyển lại nhiều hơn số 20 quyển như ghi trong Phan Huy Chú, và nó lại là bản do Thư viện Bác cổ cũ thuê sao, và không nói sao chép ở đâu ra [4].

Trong những hợp tuyển thơ Việt Nam biên tập trước thế kỷ 18, Toàn Việt thi lục có quy mô lớn nhất. Mặc dù sách viết tay và còn nhiều lầm lẫn, nhưng bộ sách vẫn là kho báu của nền văn hoá dân tộc Việt, cần cho công tác nghiên cứu hiện nay.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
1.^ Về tên bộ sách, có nguồn chép là Toàn Việt thi tập là không chính xác; tên đúng là Toàn Việt thi lục như Phan Huy Chú đã ghi.
2.^ Theo Lịch triều hiến chương loại chí (Tập 3, tr. 142). Nhưng nay chỉ còn 15 quyển.
3.^ Toàn Đường thi gồm 99 quyển, biên tập theo sắc lệnh năm 1707 đời Khang Hy (nhà Thanh, Trung Quốc). Toàn bộ gồm hơn 8.000 bài thơ của 2.200 nhà (theo Từ hải, tr. 145).
4.^ Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tr. 820.
9.^ Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (mục từ “Toàn Việt thi lục”, bản điện tử).
Sách tham khảo:
-Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (Tập 3). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.
-Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003.
-Trần Thị Băng Thanh, mục từ “Toàn Việt thi lục” in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Nhiều người soạn, Theo Từ điển bách khoa Việt Nam mục từ “Toàn Việt thi lục”.

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Đạm Phương nữ sử (1881-1947)



Đạm Phương (1881-1947) tên thật là Công Nữ Đồng Canh, tự: Quý Lương; là nhà văn, nhà báo, nhà giáo dục Việt Nam.

Bà sinh năm Tân Tỵ (1881) trong một gia đình hoàng tộc ở tại Huế. Cha bà là Nguyễn Phúc Miên Triện, là Hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng, được phong tước Hoằng Hóa quận vương.

Thời niên thiếu, bà được học Hán văn, Pháp văn, Quốc ngữ; và học cả cầm, kỳ, thi, họa, thêu thùa, nấu nướng…Năm 20 tuổi, bà được mời vào Cung lo việc cho Hoàng hậu; dạy cho các Công chúa và cung nữ. Bà dạy giỏi, được triều đình phong cho bà chức “nữ sử” [1] nên sau này khi viết báo bà thường ký tên là Đạm Phương nữ sử.

Đọc nhiều, hiểu biết sâu rộng, sớm tiếp cận tư tưởng dân chủ như Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên, Jean-Jacques Rousseau; lại sớm được tiếp xúc với các nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, v.v….nên Công Nữ Đồng Canh đã từ một địa vị “lá ngọc cành vàng” trở thành một người trí thức tiến bộ của thời đại.

Bài báo đầu tiên của bà được đăng trên Nam Phong tạp chí (Hà Nội) tháng 7 năm 1918. Kể từ đó, bà lần lượt gửi bài cộng tác với các báo, tạp chí ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ: Nam Phong tạp chí, Phụ nữ thời đàm,Tiếng dân, Hữu Thanh, Lời đàn bà… Ngoài ra, bà còn làm trợ bút cho báo Trung Bắc tân văn và giữ chuyên mục Văn đàn bà của báo này từ năm 1919 đến năm 1928.

Giữa năm 1926, sau khi tiếp xúc với Phan Bội Châu và các bậc chí sĩ khác, bà công khai đứng ra tổ chức một trường học nữ công có tên là Nữ công học hiệu tại Huế nhằm giáo dục nữ giới ý thức được giá trị của nghề nghiệp thủ công. Đây là một hội đoàn đầu tiên của phụ nữ Việt Nam với tư tưởng canh tân, đề xướng vấn đề nữ quyền rất tiến bộ đương thời.

Năm 1928, bà bị thực dân Pháp bắt giam vì chúng nghi bà có liên quan đến đảng Tân Việt.
Từ cuối năm 1930 trở đi bà giã từ báo chí, vắng hẳn bút danh Đạm Phương trên các phương tiện truyền thông, tập trung vào việc làm sách.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp (19 tháng 12 năm 1946), bà tản cư ra Thanh Hóa cùng với gia đình con trai Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều). Tuổi già sức yếu, Đạm Phương nữ sử mất vào năm Đinh Hợi (1947) ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, thọ 66tuổi.

Năm 16 tuổi, Đạm Phương nữ sử lấy ông Nguyễn Khoa Tùng con trai thứ 7 của cụ Nguyễn Khoa Luận, sinh hạ được 3 người con trai và 3 người con gái. Sau cả 3 con trai của bà lần lượt hy sinh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt, trong đó có nhà lý luận Marxist Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn).

Các tác phẩm của Đạm Phương nữ sử để lại:
-Kim tú cầu (tiểu thuyết bi tình), đăng từng phần trên Trung Bắc tân văn từ số 25 tháng 5 năm 1923 đến 21 tháng 7 cùng năm; sau đó in thành sách. Căn cứ thời điểm này, nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền khẳng định, bà Đạm Phương là người phụ nữ Việt Nam “đầu tiên viết tiểu thuyết”. Nội dung Kim Tú Cầu kể chuyện nàng Kim Tú Cầu yêu người anh con cô con cậu tên là Ngọc Lan mà không lấy được. Cha mẹ ép gả nàng làm vợ kế quan đề đốc Mổ. Chồng chết, nàng Tú Cầu nhan sắc bị kẻ cướp đuổi bắt, phải trốn vào một ngôi chùa trên núi... Còn chàng Ngọc Lan sau khi người trong mộng đi lấy chồng đâm ra buồn tủi, rồi quyết chí học hành, thi đỗ cử nhân. Trải qua bao biến cố, khi Ngọc Lan tìm được đến nơi thì Tú Cầu đã bị chết trong rừng sâu. Ngọc Lan đau đớn ngất đi...

-Lược khảo về tuồng hát An Nam (đăng trên Nam Phong tạp chí số 76, tháng 10 năm 1923).
-Hồng phấn tương tri (truyện dài, 1929)
-Đạm Phương thi văn tập
-Giáo dục nhi đồng (1942)
-Năm mươi năm về trước, là một cuốn tiểu thuyết vạch trần những xấu xa thối nát của cuộc sống trong cung đình”. Cuốn sách bị Sở kiểm duyệt Pháp tiêu hủy ngay bản thảo xin giấy phép xuất bản (1944).

Ngoài ra, bà còn viết khoảng 200 bài báo về giáo dục như Gia đình giáo dục thường đàm, Bàn về vấn đề giáo dục con cái, Phụ nữ gia đình, Nữ công thường thức,, v.v…So với thời bấy giờ, đó là một sự nghiệp báo chí đồ sộ.
*
Đạm Phương nữ sử xuất hiện như một nhà báo nữ ở giai đoạn đầu tiên của nền báo chí nước nhà, và là một trong những cây bút hàng đầu của làng báo Việt Nam thuở ấy... Bên cạnh đó, bà còn nổi tiếng là một nhà hoạt động xã hội tân tiến thời bấy giờ với việc đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ. Năm 1926, bà cho ra đời Nữ công học hội. Đây là một tổ chức hội phụ nữ đầu tiên ở Việt Nam. Chính nhờ học hội mà những người phụ nữ đã bước ra khỏi ngưỡng cửa nhà mình và đã vươn tới hòa nhập cùng xã hội bằng những công việc mà trước đó chỉ nam giới mới được làm. Tâm huyết với việc nâng cao vị thế của phụ nữ Việt Nam trong thời đại bấy giờ, bà đã viết hàng loạt bài báo với chủ đề giáo dục phụ nữ, hướng dẫn cách sinh con, nuôi con, cách tổ chức gia đình theo đời sống mới…Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, bà là người phụ nữ đầu tiên ở Đông Nam Á đặt vấn đề giải phóng phụ nữ ngay từ đầu thế kỷ 20; và cũng là nữ trí thức Việt Nam đầu tiên đặc biệt quan tâm đến sự dưỡng dục thế hệ trẻ thơ. Trong một tác phẩm của mình bà đã có một câu văn rất hay: “Khuôn mặt người mẹ là quyển sách đầu tiên của đứa con”.

Về văn chương, Đạm Phương nử sử đã để lại một số tác phẩm khá độc đáo, trong đó có quyển tiểu thuyết bi tình Kim Tú Cầu (1923), ra đời trước khi có quyển Tố Tâm (1925). Theo tác giả Phạm Thị Thu Hương thì đây là một tác phẩm “phê phán việc ép duyên, ca ngợi tình yêu hôn nhân tự do, phê phán sự bất ổn xã hội đang đe dọa cuộc sống của người dân. Mặc dù cách miêu tả nhân vật còn sơ lược, ước lệ và cách dẫn dắt câu chuyện chưa có gì mới, song Kim Tú Cầu cũng như hầu hết mảng văn xuôi của bà đã phần nào thoát ra khỏi nghệ thuật biền ngẫu và lối kết cấu có hậu của tiểu thuyết cổ điển. Thơ bà vẫn khai thác các đề tài và hình thức của thơ trung đại, nhưng đã mang chút sắc thái riêng của một nữ sĩ Tây học nên cũng khá hấp dẫn độc giả đương thời. Ngoài ra, bài Lược khảo về tuồng hát An Nam của bà là công trình nghiên cứu sớm nhất về loại hình nghệ thuật này” (Từ điển văn học [bộ mới], tr. 376).

Năm 1947, khi hay tin bà mất, cụ Thảo Am Nguyễn KhoaVy đã viết đôi câu đối ca ngợi công đức của bà:
“Khí phách nam nhi, tinh hoa Nam Việt, nhớ thuở Nam Giao truy điệu, lên diễn đàn thay mặt cụ Sào Nam
Văn tài nữ Sử, sư phạm nữ công, e khi nữ giới yêu cầu, đi phó hội theo chân bà Trưng nữ”.

Tháng 6 năm 1999, chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế ra quyết định đặt tên là đường Đạm Phương.
Đường nằm trên địa bàn phường Tây Lộc, thuộc khu vực Thành Nội, khởi đầu từ đường Hoàng Diệu, chạy qua phía sau chợ Tây Lộc đến đường Lê Đại Hành, dài 250m.

Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Đạm Phương nữ sử 1881 – 2011, một cuộc Hội thảo diễn ra ngày 18 tháng 6 năm 2011 tại Thừa Thiên- Huế do UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế phối hợp với Viện Văn học Việt Nam tổ chức.
Tham dự Hội thảo có Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Phụ nữ Việt Nam, gia đình Đạm Phương nữ sử cùng các nhà nghiên cứu.
Nhà sử học Dương Trung Quốc ví hội thảo này như động tác "phủi đi lớp bụi thời gian của sự quên lãng, kể cả những nhận thức, hạn chế liên quan đến gia cảnh, tính thời đại, và làm long lanh một tấm gương mà ngày hôm nay nếu soi lại chúng ta sẽ thấy rất nhiều bài học quý giá cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ và con trẻ"...


Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Nữ sử là tên một chức quan đời nhà Chu (Trung Quốc) dành cho người phụ nữ học giỏi, được sung vào triều để chép những việc trong nội cung.

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

Người làm cho thủ lĩnh Nông Văn Vân bị thiêu chết

Nguyễn Văn Quyền (?-1835), là một võ quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông chính là người trực tiếp dẫn quân đi vây bắt Nông Văn Vân, và cũng là người ra lệnh đốt rừng Thẩm Pát ở Tuyên Quang, làm vị thủ lĩnh này bị thiêu chết.

Ông là người ở huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa; nay là quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Thân thế ông không rõ, chỉ biết vào năm Giáp Dần (1794), ông được bổ vào ngạch quân Thần Sách của chúa Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long sau này), lần lượt thăng đến Phó Vệ úy, khâm sai Cai cơ.

Minh Mạng năm thứ nhất (1820), thăng ông làm Vệ úy vệ Tiền nhị quân Thị trung, Vệ úy Nội vệ ở thuộc nội, kiêm quản các đội túc trực vệ Cẩm y ở kinh thành Huế.
Năm 1825, thăng ông làm Chưởng cơ, nhưng vẫn giữ nhiệm vụ cũ.
Năm 1827, phái ông đi Nam Định đánh quân “thổ phỉ” (chữ trong sử nhà Nguyễn), thắng trận liên tiếp, được thưởng quân công kỷ lục.
Năm 1828, thăng ông làm Thự Thống chế, rồi sai đi Gia Định lo việc thao diễn quân.
Năm 1831, cử ông đi làm Trấn thủ kiêm đê chính tỉnh Hải Dương. Ít lâu sau, vì đê vỡ, ông bị mất chức.

Năm 1833, cho ông khởi phục chức Phó Vệ úy, lĩnh thủy sư tỉnh Hà Nội, để theo Đề đốc quân vụ Phạm Văn Lý đi đánh giải vây thành tỉnh Hưng Hóa. Tháng 7 (âm lịch) năm đó, Nông Văn Vân là Tri châu châu Bảo Lạc (Tuyên Quang), tuyên bố chống Nguyễn, rồi dẫn quân đi vây hãm thành tỉnh Tuyên Quang. Lập tức, vua Minh Mạng sung Nguyễn Văn Quyền làm Lãnh binh tỉnh Tuyên Quang, để hiệp với tướng Lê Văn Đức đốc quân đi đánh giải vây cho tòa thành này. Thành công, ông lại được thưởng quân công kỷ lục.

Năm Minh Mạng thứ 15 (1835), Nguyễn Văn Quyền đem quân đánh nhau với quân của Nông Văn Vân. Vì khinh địch, đánh thua, ông bị cách chức. Song xét chiến công cũ, nhà vua cho ông khởi phục chức Phó Vệ úy, rồi Vệ úy, lại sung chức Lãnh binh tỉnh Tuyên Quang, để đi theo Thống súy Lê Văn Đức và Tham tán Phạm Văn Điển lo việc đánh dẹp cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân.

Tháng 3 (âm lịch) năm 1835, Nông Tịnh Hòa, một chỉ huy trong đội quân nổi dậy ra đầu thú, rồi khai ra chỗ ẩn của thủ lĩnh Nông Văn Vân. Kể lại đoạn thủ lĩnh Vân bị diệt, sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép:

...Tên ra thú là Nông Tịnh Hòa dò được thực đi báo nơi quân thứ, Lê Văn Đức và Phạm Văn Điển tức thì phái Vệ úy Nguyễn Văn Quyền đem hơn ngàn binh dũng tới ngay vây bắt...Sợ (Nông Văn) Vân trốn thoát, (Nguyễn Văn) Quyền cho phóng hỏa đốt cả bốn mặt,...(Nông Văn) Vân ở trong lỗ đá chui ra chết về lửa rơi nằm bên cạnh núi, bên cạnh mình có một đĩnh lớn vàng và kèm theo một lưỡi dao bằng bạc mạ vàng. Bọn (Lê Văn) Đức cho đệ lá hồng kỳ chạy như bay về báo tiệp và đóng hòm đầu Vân đưa dâng, …[tr. 1051].
Xét công lao, ông được thưởng kim tiền, nhẫn vàng; nhưng khi đem quân về thì lâm bệnh mất “vì xông pha nơi lam chướng, nhọc mệt đã lâu ngày” . [Quốc triều toát yếu (phần Chính biên), tr. 308].

Sau đó, vua Minh Mạng cho trụy tặng hàm Thống chế, và cấp cho tiền tuất.

Sách tham khảo:
■Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện (Quyển thứ 15, truyện “Nguyễn Văn Quyền”). Nhà xuất bản Văn học, 2004.
■Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên). Nhà xuất bản Văn học, 2002.

Cuộc nổi dậy Nông Văn Vân

Cuộc nổi dậy Nông Văn Vân là một cuộc đấu tranh chống nhà Nguyễn của các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc (Việt Nam) do Nông Văn Vân làm thủ lĩnh, xảy ra từ đầu tháng 7 (âm lịch) năm Quý Tỵ 1833 đến khoảng giữa tháng 3 (âm lịch) năm Ất Mùi (1835) thì bị triều đình dập tắt. Cuộc nổi dậy kết thúc khi quân nhà Nguyễn phóng hỏa đốt rừng Thẩm Pát (hay Thẩm Bát) ở Tuyên Quang và tuyên bố đã tìm thấy thủ lĩnh Nông Văn Vân bị chết cháy ở trong đó. Theo một số nhà nghiên cứu thì đây là cuộc đấu tranh rộng lớn và tiêu biểu nhất của các dân tộc thiểu số ở nửa đầu thế kỷ 19 tại Việt Nam.

I. Nguyên nhân:
Vào đời Minh Mạng, ở các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng,... nhà vua đặt chức lưu quan do người Kinh nắm giữ ở bên cạnh các quan đứng đầu là người dân tộc các quan lại do triều đình cử đến. Theo sử liệu thì họ thường có thói ức hiếp, tham nhũng, nên các thổ quan (trong đó có Nông Văn Vân) và người dân Bảo Lạc rất căm ghét, chỉ chờ dịp nổi lên đánh đuổi.

Tháng 5 năm Quý Tỵ (1833), Lê Văn Khôi (em vợ Nông Văn Vân) vì bất mãn đã khởi binh chiếm lấy thành Phiên An ở Gia Định. Vua Minh Mạng lập tức cử quân đi đánh dẹp, đồng thời lệnh cho quan lại ở Cao Bằng truy nã vợ con và họ hàng Lê Văn Khôi đang cư ngụ ở đó. Theo sử liệu, thì viên án sát Cao Bằng là Phạm Đình Trạc liền ra lệnh bắt 2 con, 1 người em ruột và 14 người thân thuộc của Lê Văn Khôi. Lại sai đào mả ông nội (Bế Văn Sĩ) và cha đẻ (Bế Văn Kiện hay Viên) của Lê Văn Khôi rồi đốt hài cốt ra tro. Nông Văn Vân lúc bấy giờ đang làm Tri châu Bảo Lạc cũng bị truy nã vì là anh vợ Khôi...

Trong tình thế ấy, Nông Văn Vân liền phát động cuộc nổi dậy. Việc làm đầu tiên của ông, là thích bốn chữ “Tỉnh quan thiên hối” (quan tỉnh thiên vị, ăn hối lộ) vào mặt phái viên do tỉnh phái đến rồi đuổi về.

Ngày 2 tháng 7 (âm lịch) năm Quý Tỵ (1833), Nông Văn Vân tự xưng là "Tiết chế Thượng tướng quân”, lập đại bản doanh ở Vân Trung (thị trấn Bảo Lạc ngày nay) [1] thuộc châu Bảo Lạc, tập họp các thổ mục, một số họ hàng của Lê Văn Khôi, một số thợ mỏ người Hoa và nhân dân bị áp bức, được khoảng 6.000 người cùng đứng lên chống Nguyễn.

II. Tóm tắt diễn biến:
Khi Nông Văn Vân phất cờ chống nhà Nguyễn, thì ở miền Bắc đang có cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương, và ở miền Nam đang có cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi.

Trong cục diện ấy, Nông Văn Vân chia quân đi đánh phá các tỉnh miền ngược. Các quan sở tại chống không nổi, phải xin quân cứu viện. Tháng 8 (âm lịch) năm 1833, vua Minh Mạng cho Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên là Lê Văn Đức làm Tổng đốc Tam Tuyên quân vụ, Thự tổng đốc Hải An là Nguyễn Công Trứ làm Tham tán, cùng đến mặt trận Tuyên Quang. Lại sai Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ đem binh tượng tới mặt trận Thái Nguyên. Sau, thấy hai thành tỉnh là Cao Bằng và Lạng Sơn bị vây ngặt quá, tháng 10 (âm lịch), nhà vua lại sai An Tĩnh tổng đốc là Tạ Quang Cự làm Tổng thống Đại thần, lên đánh ở hai mạn đó.

Tháng Chạp năm Quý Tỵ (1833) đạo quân của Tạ Quang Cự giải được vây tỉnh Lạng Sơn và lấy lại được thành Cao Bằng. Đạo quân của Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ vào đến Vân Trung ở Bảo Lạc, là đại bản doanh của quân nổi dậy, khiến Nông Văn Vân phải chạy trốn sang Trung Quốc.

Nhưng khi quân triều vừa rút đi, thì Nông Văn Vân lại về rủ đảng đánh phá như cũ. Nhà vua lại sai các đạo quân tiến lên phòng giữ các tỉnh mạn ngược. Đến tháng 9 (âm lịch) năm Giáp Ngọ (1834), Lê Văn Đức và Phạm Văn Điển đi từ Sơn Tây lên Tuyên Quang; Tạ Quang Cự, Nguyễn Tiến Lâm và Hồ Hữu đi từ Cao Bằng; Nguyễn Đình Phổ và Nguyễn Công Trứ đi từ Thái Nguyên; ba mặt quân cùng tiến lên hội tiễu.

Tháng Chạp năm ấy, cả ba đạo cùng đến hội ở Vân Trung, rồi sai người đưa thư sang nhờ quan nhà Thanh (Trung Quốc) ngăn không cho quân nổi dậy chạy sang bên ấy. Nên khi Nông Văn Vân chạy sang Trung Quốc, bị quân nhà Thanh đuổi bắt, phải trở về Tuyên Quang.
Tháng 3 (âm lịch) năm Ất Mùi (1835), biết chỗ Nông Văn Vân ở, quan quân nhà Nguyễn liền lần theo truy đuổi, khiến ông Vân phải chạy ẩn vào trong rừng Thẩm Pát ở Thái Nguyên, rồi bị thiêu chết khi quân triều phóng hỏa đốt rừng. Cuộc nổi dậy do ông và các đồng đội đã dày công gầy dựng đến đây là kết thúc.

III. Một số sự kiện nổi bật:
Cuộc nổi dậy do Nông Văn Vân làm thủ lĩnh là một cuộc đấu tranh "rộng lớn". Sách Bắc Kỳ tiễu phỉ (Quyển 47), chép:
Thổ phỉ Tuyên, Cao, Thái, Lạng lan tràn, chỗ nào cũng có đứa hùng trưởng, mà đều lấy giặc (Nông Văn) Vân làm chủ...
Sách Đại Nam thực lục (Quyển 18), chép:
Việc nổi loạn là do (Nông Văn) Vân xướng xuất, tù trưởng các châu đều họa theo và đều nhận chức quan của Vân...

Sau đây là một số sự kiện nổi bật:
3.1 Ở mặt trận Tuyên Quang:
Để thông đường tới thành tỉnh Tuyên Quang (gọi tắt là thành Tuyên), Nông Văn Vân cho quân đánh chiếm đồn Ninh Biên (sau đổi tên là An Biên, nay thuộc thị xã Hà Giang) và đồn Phúc Nghi (nằm bên hữu ngạn sông Gâm).

Sau khi cho người đưa thư dụ hàng viên trưởng đồn Ninh Biên là Hoàng Kim Thuận không được, Nông Văn Vân liền đem quân lẻn theo đường núi thuộc châu Vị Xuyên (nay là một huyện của tỉnh Hà Giang) đến đánh đồn Ninh Biên. Cùng lúc ấy, làm theo lệnh của thủ lĩnh Vân, Ma Sĩ Vinh dẫn quân đi đánh đồn Phúc Nghi.
Sách Việt Nam thế kỷ XIX, kể:
Cuối tháng 7 (âm lịch) năm Ất Tỵ (1833), nghĩa quân do thủ lĩnh Ma Sĩ Vinh chỉ huy từ các cao điểm kéo đến vây chặt bốn mặt đồn Phúc Nghi. Đồng thời, một cánh quân khác cưỡi thuyền độc mộc từ thượng lưu bơi qua phía trước đồn, rồi bỏ thuyền lên bờ giáp lại cùng đánh,...Lực lượng của nghĩa quân ước hơn 1000 tên [tr. 197].

Hay được, Bố chính Phạm Phổ cùng Thành thủ úy Trương Phúc Nguyên kéo quân đi ngăn lại. Đầu tháng 8 (âm lịch) năm Ất Tỵ (1833), một trận kịch chiến sau đó nổ ra tại sông Tiểu Miện. Quân triều đánh thua, Hoàng Kim Thuận bị giết tại trận. Quân nổi dậy bèn vây kín đồn Ninh Biên. Do thiếu quân và thiếu lương ăn, Phạm Phổ tự vẫn, Trương Phúc Nguyên cùng hơn 400 biền binh trong đồn đều bị bắt sống.

Lấy được hai đồn trên, Nông Văn Vân liền chia quân thủy bộ ra làm ba cánh đi tấn công thành Tuyên. Theo kế hoạch, thì: Cánh thứ nhất đi tới địa đầu phủ Đoan Hùng, ngăn không cho viện binh ở Sơn Tây kéo lên. Cánh thứ hai (có quân của Nguyễn Đình Liêm từ Thái Nguyên qua phối hợp) tới đánh mặt trước thành. Cánh thứ ba, từ châu Ninh Biên theo sông Tiểu Miện tới đánh mặt sau thành. Tuy nhiên, vì cánh quân thứ ba không đến kịp, và vì tướng Lê Văn Đức kịp thời đưa quân tới cứu, nên việc đánh chiếm thất bại.

Sách Việt Nam thế kỷ XIX, kể:
Vào hạ tuần tháng 8 (âm lịch) năm Quý Tỵ (1833), nghĩa quân chủ động đi chiếm lĩnh các cao điểm xung quanh tỉnh thành ở hai bên bờ sông Lô, xây dựng đồn lũy dã chiến. Ngày 21 tháng 8, khoảng 4000, 5000 quân nổi dậy tiến đến chiếm đồn Cao Tụ ở phía sau tỉnh thành. Tuy nhiên, do quân triều tập trung đông với voi chiến và súng lớn, mà cánh quân ở Ninh Biên chưa đến kịp, nên quân nổi dậy không thể chiếm được tỉnh thành, đành phải lui về đồn Núi Đền (trên núi Đùm hay Tràng Đà) ở bên kia sông Lô. Quân triều đuổi theo đến bờ sông, nhưng không qua được vì không có thuyền...[tr. 197]

Ngoài ra, để quân triều không ứng cứu lẫn nhau, Lưu Trọng Chương và Hoàng Trinh Tuyên dẫn 2.000 quân nổi dậy đi đánh đồn Đại Đồng thuộc châu Thu (Thái Nguyên). Tướng Lê Văn Đức bèn phái Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền, Quản cơ Nguyễn Hữu Du và Tri phủ Đoan Hùng là Nguyễn Đức Hoành, đem hơn ngàn quân cùng hai thớt voi chia đường đi cứu. Hai bên giáp chiến tại địa phận rừng Hoàng Loan, cuối cùng quân nổi dậy bị đẩy lui. Theo Quốc triều sử toát yếu, thì khi ấy Nông Văn Vân “đã thua” ở trận thành Tuyên, nhưng vì “đồng đảng nó chưa biết nên tới đó khuấy nhiễu”.

Tháng 10 (âm lịch) năm 1833, tướng Lê Văn Đức và tướng Nguyễn Công Trứ cùng đưa quân vào đánh phá đại bản doanh Vân Trung và Ngọc Mạo (Đồng Mu ngày nay) [2], định tìm bắt Nông Văn Vân.

Mặc dù quân nổi dậy ở đồn Phúc Nghi, đồn Ninh Biên, Đèo Ve (Kẻm Ve), Đèo Hoạch (Kẻm Kiếng), Tòng Bá, đồn Bắc Cái (thuộc xã Bạch Đích), Pắc Phấn, v.v...dựa vào chỗ hiểm phục binh đón đánh, và được lực lượng ở Thái Nguyên "chia lửa" [3], nhưng vì quân triều mạnh quá nên đều phải rút chạy Tuy vào được Vân Trung và Ngọc Mạo, nhưng quân triều không bắt được Nông Văn Vân, vì lúc này (tháng Chạp năm 1833) ông đã lánh sang Trung Quốc. Vì không hợp thủy thổ và thường bị phục kích, cuối tháng Chạp năm 1833, Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ cho quân rút về Tuyên Quang. Theo tài liệu, trên đường đi và về, quân triều phải chịu nhiều khó nhọc và tổn thất.
Sách Việt Nam thế kỷ XIX, kể:
…Từ Ninh Biên vào đại bản doanh Vân Trung (Bảo Lạc) phải mất một tháng rưỡi. Điểm lại quân số, khi đi có một vạn quân, vào đến Vân Trung đã có 2.400 lính ốm với hơn 100 tên bỏ mạng dọc đường, nhiều thổ dũng bỏ trốn, lúc đến Vân Trung chỉ còn non một nữa [tr. 198].
Việc "thắng lợi nhưng lắm hao tổn" này đã bị nhà vua kết tội. Sử nhà Nguyễn chép:
...Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ kéo quân từ Vân Trung về đến tỉnh Tuyên Quang, đem những tình trạng quân giặc cứ hiểm thiết phục, dọc đàng đón lương cướp súng, và quân sĩ nhiễm bệnh lam chướng, lương ăn không đủ, dâng sớ xin nhận tội. Ngài (Minh Mạng) dụ rằng: "Quân đi ngàn dặm quý là thần tốc, mình chẳng tới mau để giặc giữ chỗ hiểm, thừa (thời) gian cướp bậy. Khi quân mình về, giặc lại phòng bị các nơi, đến nỗi quân mình chết hại, súng ống bỏ mất, uổng công bấy lâu qua lại, tội chẳng đáng sao?....Vậy giao cho bộ nghị xử". Bộ khép (Lê Văn) Đức vào tội tử. Vua cho là nặng quá, chuẩn cho tước bỏ mũ áo, giáng bốn cấp, cất lương, khiến cho Đức phải cố gắng thu công chuộc tội...[3].

Tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1834), Nông Văn Vân trở về nước. Sau đó, ông sai Nông Văn Sĩ dẫn hơn ngàn quân đi đánh nhau với quân triều ở Cao Bằng. Tham tán Võ Văn Từ đem việc báo lên. Tức giận, vua Minh Mạng sai Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ lập tức đem đại binh, từ Tuyên Quang vào lại Vân Trung và Ngọc Mạo để "đạp bằng sào huyệt giặc, làm sao bắt chém được thằng Vân (Nông Văn Vân), thằng Đản (Bế Văn Đản), thằng Cẩn (Bế Văn Cẩn),...mới cho đem quân về" .

Theo lời tâu của tướng Lê Văn Đức và tướng Nguyễn Công Trứ thì việc tiến quân vào Vân Trung lần thứ hai cũng hết sức khó khăn, vì phải luôn đánh nhau mà lại thường hay thiếu lương do địa hình hiểm trở khó vận chuyển.

Vì vậy, mãi đến cuối năm 1834, ba đạo quân do các tướng là: Lê Văn Đức và Phạm Văn Điển đi từ Sơn Tây; Tạ Quang Cự, Phạm Tiến Lâm và Hồ Hữu đi từ Cao Bằng; Nguyễn Đình Phổ và Nguyễn Công Trứ đi từ Thái Nguyên; mới vào được đại bản doanh Vân Trung.

3.2. Ở mặt trận Thái Nguyên và Bắc Kạn:
Tháng 8 (âm lịch) năm 1833, khi đội quân chủ lực đang bận ở mặt trận thành Tuyên, thì Nông Văn Sĩ nhận lệnh của Nông Văn Vân, đem một đội quân khác đi đánh châu Bạch Thông thuộc tỉnh Thái Nguyên.

Bố chính Thái Nguyên là Nguyễn Đôn Tố liền phái Suất đội Trần Đình Dự, Dương Đình Ất cùng viên thủ bảo Chợ Rã (nay đổi tên là huyện Ba Bể) là Bế Văn Đức đem quân đi cản phá. Từ đất Bằng Thành thuộc Chợ Rã, quân nổi dậy chia ba mũi xông vào đánh giáp lá cà, Đình Dự và Đình Ất thua chạy, Văn Đức đầu hàng. Chiếm cứ được Chợ Rã, "thổ dân theo vào đảng (giặc) đến hơn nghìn người".

Lúc ấy, Quang Toản đang đóng quân ở đồn Na Miêu, cũng bị hơn 2.000 quân nổi dậy tấn công, vì quân ít hơn, phải lui về giữ đất Na Cù. Lãnh binh Bắc Ninh là Trần Văn Duy đánh thua ở đồn Chợ Mới (nay là một huyện của tỉnh Bắc Kạn), khiến tướng Nguyễn Đình Phổ (lúc này đã mặt ở Thái Nguyên) phải xin nhận tội.

Đồng thời từ đất Bằng Lũng, hơn nghìn quân nổi dậy xông tới uy hiếp đồn Bắc Cạn (nay viết là Bắc Kạn) ở châu Bạch Thông. Yếu thế hơn, Bố chính tỉnh Thái Nguyên là Nguyễn Đôn Tố cho quân lui về Chợ Mới, rồi sai Lãnh binh Nguyễn Văn Cát dẫn quân tới đồn Bắc Cạn, phái Quang Toản và Đinh Quang Tiến dẫn quân tới Tượng Đầu làm rào cản. Sau đó, đôi bên đụng độ ác liệt ở đồn Bắc Cạn. Lãnh binh Cát bị trúng đạn pháo chết tại trận, quân triều bị đánh tan. Đang hăng, quân nổi dậy liền kéo đi đánh phá Tượng Đầu, giết chết Suất đội Nguyễn Đình Du, bắt sống Quang Toản và Đinh Quang Tiến. Quang Tiến chịu hàng [4], còn Quang Toản, vì không chịu nên bị giết chết. Nghe tin thất trận, Bố chính Nguyễn Đôn Tố liền đem quân voi đến cứu, nhưng vừa đến Tông Hóa thì bị quân nổi dậy cản lại, không tiến được.

Tháng 10 (âm lịch) năm đó (1833), hơn 1.000 quân nổi dậy lại kéo tới vây đánh thành tỉnh Thái Nguyên, khiến Nguyễn Đình Phổ vừa cầu cứu, vừa đánh. Tháng sau, quân nổi dậy lại tổ chức tấn công lần nữa, nhưng cả hai lần đều bị Tổng đốc Phổ đốc quân đánh đuổi.

Sang tháng 3 (âm lịch) năm Giáp Ngọ (1834), quân nổi dậy lại tràn xuống phố Bắc Nẫm. Án sát đạo Thái Nguyên lúc bấy giờ là Nguyễn Mưu và Phó lãnh binh Nguyễn Văn Ưng ra sức ngăn lại, nhưng thua. Quản cơ Nguyễn Văn An, Chánh đội Nguyễn Đình Cát và Vệ úy Võ Văn Sơn đều tử trận, Án sát Nguyễn Mưu bị bắt sống. Thừa thắng, quân nổi dậy tiến đánh đồn Chợ Rã (nay là một thị trấn thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn) và Chợ Mới. Không chống nổi, Lãnh binh Nguyễn Văn Ưng cho quân lui về đồn Chợ Đô. Tướng Tạ Quang Cự đem việc báo lên, nhà vua liền sai tỉnh thần Hà Nội và Nam Định đưa thêm lính và voi lên tiếp sức.

Tháng 7 (âm lịch) năm đó (1834), Nồng Văn Sĩ và Nồng Văn Hoành lại nhóm quân ở hạt Cẩm Hóa thuộc Thái Nguyên đến hơn 1.000 người, chia làm 3 đạo: một đạo đi đánh đồn Bắc Cạn ở châu Bạch Thông, một đạo đinh đánh đồn Gia Bằng ở Cao Bằng, một đạo tới núi Tiêm Lĩnh (ở địa giới tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn) để cướp lương...Các quan ở Cao Bằng và Thái Nguyên đều phái binh chống cự và đem việc tâu lên.

3.3. Ở mặt trận Cao Bằng:
Sau trận đánh mở đầu ở Nước Hai (châu lỵ Thạch Lâm, nay là thị trấn huyện Hòa An) ngày 1 tháng 9 (âm lịch) năm 1833, hơn nghìn quân nổi dậy kéo đến bao vây thành tỉnh Cao Bằng (lần thứ nhất) vào ngày hôm sau. Nhận được tin cầu cứu của Bố chính Bùi Tăng Huy, vua Minh Mạng liền ra lệnh cho Tuần Phủ Lạng Bình (Lạng Sơn và Cao Bằng) là Hoàng Văn Quyền đang đóng quân ở Lạng Sơn cấp tốc đem quân sang cứu viện.

Trên đường đi, ông Quyền cho dừng quân ở đồn Na Lãnh, rồi sai Cai đội Dương Văn Phong đem quân đánh đồn Tiêm Lĩnh vừa bị đối phương chiếm giữ. Quân nổi dậy tạm lui, nhưng ngay đêm đó lại lén đến vây kín, rồi dùng pháo lớn bắn vào loạn xạ. Quân triều nhiều người bị thương, bị chết. Sau đó, quân nổi dậy kéo đi tấn công đồn Na Lãnh. Tuần phủ Quyền đánh thua phải cho quân lui về trạm Lạng Chung ở châu Thất Tuyền (Lạng Sơn) . Quân triều chạy về trạm Lạng Chung, theo sách Bắc Kỳ tiễu phỉ, thì:
Sáng sớm ngày 23 tháng 9 (âm lịch), lũ giặc đông đến 5.000 tên vây đánh úp trạm Lạng Chung. Tri châu Thất Tuyền Nguyễn Khắc Hòa cùng 7 anh em của nó đem dân phu hùa theo giặc...Biền binh chống đánh không được, lùi ra ngoài đồng, giặc thừa thế đuổi bắn, Tuần phủ Quyền bị giặc bắt được...Bọn quản cơ, cai đội, kẻ thì chết kẻ thì chạy, binh lính trong trận đều vứt bỏ khí giới chạy về [trích lại theo Việt Nam thế kỷ XIX (tr. 208)].

Thừa thắng, quân nổi dậy tiến lên vây hãm thành tỉnh Lạng Sơn. Lúc bấy giờ, thành tỉnh Cao Bằng thiếu đạn, thiếu lương vì bị vây cả tháng mà viện binh thì vừa bị đánh tan. Biết không chống cự nổi, ba ông quan đầu tỉnh là Bố chánh Bùi Tăng Huy, Án sát Phạm Đình Trạc, Lãnh binh Phạm Văn Lựu đều tự tử.

Cuối tháng 11 (âm lịch) năm 1833, tướng Tạ Quang Cự đưa quân lên cứu thành tỉnh Cao Bằng. Xét mình yếu thế hơn, Nông Văn Vân gom quân chạy sang Trung Quốc để bảo toàn lực lượng. Ngày 27 tháng 11 (âm lịch), tướng Quang Cự lấy lại thành mà không cần phải đánh, sau đó gửi về bản tâu, trích:
...Thần vừa tới Cao Bằng, thì được biết từ tối hôm trước bọn giặc đã phóng lửa đốt hết nhà cửa trong và ngoài thành mà bỏ đi rồi...Từ ngày 2 tháng 9 (âm lịch), giặc đến tỉnh thành vây hãm, trong thành thuốc đạn, muối gần hết, biền binh mỏi mệt đau ốm...Ngày 5 tháng 10 (âm lịch), (Bố chính) Bùi Tăng Huy thắt cổ, (Án sát) Phạm Đình Trạc đào lỗ tự chôn, (Lãnh binh) Phạm Văn Lựu cũng thắt cổ chết, (Lãnh binh) Vũ Văn Lợi hàng giặc...[Chép theo Việt Nam thế kỷ XIX, tr. 208].

Tháng Giêng (âm lịch) năm Giáp Ngọ(1834), Nông Văn Vân trở về nhóm quân ở miền thượng du Cao Bằng. Sau đó, ông sai Nông Văn Sĩ đem hơn ngàn quân từ làng Thông Sơn tới đánh nhau với quân triều ở đồn Trung Thảng. Tức giận, vua Minh Mạng cử Lê Văn Đức làm Tổng đốc đạo Tuyên Quang, Nguyễn Công Trứ làm Tham tán, cùng đem đại binh từ Tuyên Quang vào lại Vân Trung.

Tháng 2 (âm lịch), quân đạo Cao Bằng đánh nhau với quân nổi dậy ở Đinh Lãm bị thua, hai tướng là Tạ Quang Cự và Võ Văn Từ đều bị cách tước. Nhưng sau đó, hai ông lén đánh phá tại núi Công Lãnh, gây cho quân nổi dậy một số thiệt hại.

Khoảng giữa tháng 6 (âm lịch), Nông Văn Vân, Bế Văn Cận (hay Cẩn), Bế Văn Huyền (em vợ Văn Vân), đem khoảng 6.000 quân đi đánh chiếm thành tỉnh Cao Bằng (lần thứ hai). Đôi bên giao chiến với nhau nhiều trận, đều bị thiệt hại, nhưng nhờ có viện binh nên quân nổi dậy đánh thắng. Thừa thắng, Nông Văn Vân cho quân tràn tới đốt phá châu Thạch Liêm, rồi tiến chiếm thành tỉnh Cao Bằng.

Hay tin, tướng Nguyễn Tiến Lâm và Phó vệ úy Nguyễn Tình Lộc mang binh voi định tiến lên lấy lại, nhưng mới tới sơn ải Lạng Chỉ thì bị đối phương chặn đánh, Tình Lộc chết tại trận, Tiến Lâm lui về đồn Lạc Dương ở Cao Bằng. Tạ Quang Cự và Nguyễn Công Trứ kéo quân lên chi viện. Nghe tin, quân nổi dậy lên núi giữ chỗ hiểm chia đặt hơn 20 trại quyết đối đầu với quân triều. Tướng Quang Cự bèn thân đốc biền binh từ xã Hoa Sơn (nay đổi là Cẩm Sơn) tiến lên Lạc Dương (Cao Bằng), đi đến đâu quân nổi dậy bị đánh tan đến đấy. Liệu không thể giữ được thành tỉnh Cao Bằng, Nông Văn Vân cho quân rút đi. Quản cơ ở Cao Bằng là Nguyễn Hựu Đĩnh (hay Đình) liền đem quân vào lấy lại thành, mà không phải đánh. Biết Bế Văn Cận (một tướng giỏi của Nông Văn Vân) đang ở Lạc Dương định lui quân, Quản cơ Đĩnh liền cho phục binh ở phía sau đồn Ninh Lạc. Quả nhiên, Bế Văn Cận lọt vào vòng vây, bị Chánh đội trưởng Trình Văn Châu giương súng bắn trúng, thổ dũng Hà Đình Bảo sấn vào chém được đầu tướng Cận.

3.4. Ở mặt trận Lạng Sơn:
Tháng 10 (âm lịch) năm 1833, hai tướng của Nông Văn Vân là Nguyễn Khắc Hòa và Bế Văn Đản đem hơn 10.000 quân vây thành tỉnh Lạng SơnÁn sát Trần Huy Phác liền chạy giấy tới quân thứ và các tỉnh lân cận cầu cứu. Vua Minh Mạng liền sai Tổng đốc Tạ Quang Cự và Tham tán Võ Văn Từ đem quân lên đó. Phó lãnh binh Hà Nội là Hồ Văn Vân khi ấy cũng nhận lệnh đem binh lên cứu Lạng Sơn, nhưng vừa tới trạm Lạng Nhơn thì bị quân nổi dậy chặn đánh, trúng phải đạn chết tại trận.

Tháng 11 (âm lịch) năm đó (1833), tướng Tạ Quang Cự đánh phá quân nổi dậy ở đồn Quang Lang thuộc Lạng Sơn, rồi tiến lên đánh phá ở phía Đơn Sa, An Bài, và giải vây được thành tỉnh Lạng Sơn. Sau đó, ông nhận lệnh đến Cao Bằng, và thâu phục lại được thành tỉnh này.

IV. Bị dập tắt:
Tháng Chạp năm Giáp Ngọ (1834), cả ba đạo quân xuất phát từ Tuyên Quang, Cao Bằng và Thái Nguyên cùng đến hội ở Vân Trung thuộc châu Bảo Lạc.
Sách Việt Nam thế kỷ XIX đã kể lại một phần cục diện lúc bấy giờ như sau:
...Tuy cố sức kình chống, nhưng từ giữa tháng 11 (âm lịch) năm Giáp Ngọ (1834), cuộc nổi dậy do Nông Văn Vân làm thủ lĩnh cứ diễn biến xấu dần, và trên thực tế đang bước vào giai đoạn cuối. Ở mặt trận Thái Nguyên, nhiều căn cứ quan trọng của quân nổi dậy ở các xã Nhạn Môn, Bằng Thành, Bộc Bố, nhất là hệ thống đồn trại ở Bắc Niệm...đều đã lọt vào tay quân triều. Ở Tuyên Quang, sau trận quyết chiến ở khu rừng Bạch Đích thì “cổ họng vào Bảo Lạc ở phía tây” coi như đã bị cánh quân của Lê Văn Đức chọc thủng...Ngày 14 tháng 11 (âm lịch), được tin đạo quân Tuyên Quang của tướng Đức đã vào đến Vân Trung, tướng Tạ Quang Cự liền tập trung hơn 2.500 quân thuộc đạo Cao Bằng, nhân đêm tối vượt qua lũng Dầu, theo đường tắt đánh thẳng vào Cạm Bẻ (Bế Lĩnh), là cửa ngõ phía đông của căn cứ Ngọc Mạo, rồi tràn xuống thung lũng Ngọc Mạo...Tháng 12 (âm lịch), Nguyễn Đình Phổ và Nguyễn Công Trứ vừa đi vừa đánh, lần lượt chiếm lấy Bắc Nẫm, Cổ Đạo, Giai Lạc...Khi ba đạo quân Tuyên, Cao, Thái hội ở Vân Trung, thì “nghịch Vân đã đem vợ con trốn sang Tàu”[tr. 210].

Đồng thời với việc cho quan quân tiến vào đánh phá Vân Trung, vua Minh Mạng còn sai bộ Lễ gửi công văn nhờ các quan nhà Thanh hỗ trợ phòng khi Nông Văn Vân chạy sang Trung Quốc lần nữa. Ngoài hai việc ấy, nhà vua còn cho đổi châu Bảo Lạc thành huyện Để Định, lựa hai thổ ty đắc lực đặt làm Tri huyện và Huyện thừa, cốt để triệt phá hậu phương lớn của thủ lĩnh Vân.

Quả nhiên, Nông Văn Vân chạy sang Trung Quốc như đã kể trên, bị quân nhà Thanh đuổi bắt, lại phải trở về Bảo Lạc, định củng cố lại lực lượng. Quân triều lại tập trung đánh vào nơi ấy, ông tháo chạy vào rừng. Bị cả ba đạo quân triều truy lùng ráo riết, nhiều chỉ huy của quân nổi dậy bị bắt hoặc ra hàng. Trong số ra hàng, có viên Chánh quản lữ là Nông Tịnh Hòa. Vì lời khai của ông này, mà quân triều biết được chỗ trú ẩn của Nông Văn Vân.

Được tin Nông Văn Vân đang ẩn ở xã Ân Quang, quan quân nhà Nguyễn liền đi truy nã, nhưng ông đã chạy thoát vào rừng Thẩm Pát (ở gần căn cứ Ngọc Mạo). Sau khi cho quân vây kín cả bốn mặt, ngày 11 tháng 3 (âm lịch) năm 1835, tướng chỉ huy ra lệnh phóng hỏa đốt rừng, và nói là đã tìm thấy Nông Văn Vân bị chết cháy ở trong đó. Nghe tin, vua Minh Mạng mừng rỡ "truyền mở tiệc rượu mua vui, sai cung tần khoác tay nhau làm kiệu ngồi mà múa. Hô liền mấy tiếng: "Cao Bằng yên rồi! Cao Bằng yên rồi!" [39]

Kể lại đoạn thủ lĩnh Vân bị diệt, sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép:
...Tên ra thú là Nông Tính Hòa dò được thực đi báo nơi quân thứ, Lê Văn Đức và Phạm Văn Điển tức thì phái Vệ úy Nguyễn Văn Quyền đem hơn ngàn binh dũng tới ngay vây bắt...Sợ (Nông Văn) Vân trốn thoát, (Nguyễn Văn) Quyền cho phóng hỏa đốt cả bốn mặt,...(Nông Văn) Vân ở trong lỗ đá chui ra chết về lửa rơi nằm bên cạnh núi, bên cạnh mình có một đĩnh lớn vàng và kèm theo một lưỡi dao bằng bạc mạ vàng. Bọn (Lê Văn) Đức cho đệ lá hồng kỳ chạy như bay về báo tiệp và đóng hòm đầu Vân đưa dâng, rồi lấy sào cao treo ngược thây ở đỉnh núi Vân Trung. Thủ cấp Vân đưa tới, vua sai đem treo ở chợ búa ba hôm. Lại truyền cho các tỉnh từ Quảng Nam trở vào Nam và từ Quảng Trị trở ra Bắc treo ba hôm, sau đâm nát quẳng xuống hố xí. Mộ của tổ phụ Vân, (vua) sai người đào hài cốt ném xuống sông. Con Vân là Lôi đưa về Kinh xử trị, còn gia quyến và đồng đảng Vân đều bị giết hết, không còn sót mống nào [5].

Theo nhiều nhà nghiên cứu, thì cuộc nổi dậy Nông Văn Vân đến đây (tháng 3 âm lịch năm 1835) là kết thúc.

Mặc dù cuộc nổi dậy kéo dài không lâu (non 2 năm), nhưng theo một số nhà nghiên cứu, thì Nông Văn Vân quả là một thủ lĩnh có tài, bởi ông đã lôi kéo được đông đảo các tù trưởng và nhân dân các dân tộc thiểu số cùng theo, khéo lợi dụng địa thế rừng núi hiểm trở trong tấn công và phòng ngự, như lời của sử gia Trần Trọng Kim: Nông Văn Vân nhân được chỗ mường mán lắm núi rừng, bèn chia quân đi tản ra mọi nơi, tìm chỗ hiểm yếu trong núi rừng mà ẩn nấp. Hễ có quan quân đến, đánh được thì tiến, không đánh được thì lui, cứ ra vào, lui tới không nhất định. Quan quân đi đánh thật là khó nhọc và lại hao binh tổn tướng rất nhiều.

V. Mối quan hệ:
5.1 Với Ba Nhàn, Tiền Bột:
Đầu năm 1834, từ Trung Quốc trở về, để tăng sức mạnh và cũng để phân tán lực lượng của quân triều, Nông Văn Vân ngầm liên kết với hai thủ lĩnh cuộc nổi dậy ở Sơn Tây là Lê Văn Bột (Tiền Bột) và Nguyễn Văn Nhàn (Ba Nhàn). Sự kiện này được sử nhà Nguyễn là Quốc triều sử toát yếu chép như sau:
Năm Giáp Ngọ (1834), tháng 6 (âm lịch)...Tướng giặc tỉnh Sơn Tây Lê Văn Bột, Nguyễn Văn Nhờn theo lời nghịch (Nông Văn) Vân tụ đảng hơn 6,7 ngàn người,...Tỉnh thần đem việc phi tâu lên. Ngài (Minh Mạng) dụ quan Tổng đốc Hà Ninh là Đoàn Văn Trường, Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ, với Lê Văn Đức bốn mặt hội lại đánh giặc...[tr. 235]
Theo sách Bắc Kỳ tiễu phỉ (Quyển 50), thì Ba Nhàn và Tiền Bột định đưa quân lên Tuyên Quang cả thảy 2 lần để hiệp đồng với Nông Văn Vân, nhưng đều không thực hiện được.

5.2 Với Lê Văn Khôi:
Nông Văn Vân là anh vợ của với Lê Văn Khôi. Khi cuộc binh biến ở thành Phiên An nổ ra, vua Minh Mạng liền ban mật dụ cho các quan tỉnh Cao Bằng là phải tìm bắt cho được vợ con và thân thích của Lê Văn Khôi. Cuộc truy nã kéo dài ngót ba tháng, hàng trăm người lần lượt đã bị bắt nhốt. Ngoài ra, nhà vua cũng ra lệnh đón chặn các đường biển và đường núi, không cho quân nổi dậy cùng vũ khí từ Gia Định kéo ra Bắc và ngược lại...

Sau khi nghiên cứu Tộc phả Bế-Nguyễn và một số tư liệu khác, bước đầu GS. Nguyễn Phan Quang đã đưa ra một ý kiến như sau:
Kế hoạch phối hợp nổi dậy giữa Lê Văn Khôi và Nông Văn Vân đã được ghi trong "Bản triều bạn nghịch liệt truyện" của Kiều Oánh Mậu và trong một số truyền thuyết ở Cao Bằng...Cả hai ông đã thống nhất một ý đồ chung là phát động cuộc nổi dậy đồng thời trong phạm vi cả nước nhằm lật đổ triều Nguyễn...Rõ ràng không phải Lê Văn Khôi nổi dậy chỉ nhằm mục đích trả thù cho Lê Văn Duyệt, càng không phải vì thân thuộc của Lê Văn Khôi ở Cao Bằng bị truy nã mà nổ ra cuộc nổi dậy Nông Văn Vân...Ý đồ trên đây đã chuẩn bị từ lâu và được xúc tiến khẩn trương khi Minh Mạng lên ngôi...[tr. 253].

Chú thích:
[1] Vân Trung ở phía tây huyện Để Định (tức Bảo Lạc) thời Nguyễn. Nơi đây núi non trùng điệp quanh co, lam khí luôn bốc lên như ở trong mây, nên gọi thế (Đại Nam dư địa chí ước biên, tr. 488). Ngày nay, Vân Trung là thị trấn của huyện Bảo Lạc, nằm trên ngã ba sông Neo và sông Gâm. Hồi làm Tri châu ở đây, Nông Văn Vân đã cho xây dựng tư thất, công đường ở khu vực nay là cửa hàng bách hóa và doanh trại của huyện đội.
[2] Theo Đại Nam dư địa chí ước biên (tr. 487) thì Ngọc Mạo ở phía tây huyện Để Định (tức Bảo Lạc) thời Nguyễn. Đây là một vùng bằng phẳng thoáng rộng, ước chừng hai ngàn mẫu, giữa có ngọn núi (núi Ngọc Mạo) giống hình chiếc mũ, nên gọi thế. Ngày nay, Ngọc Mạo là xã Đồng Mu (Mu: tiếng Tày có nghĩa là cái mũ).
[3] Khi nghe lực lượng hùng hậu của tướng Lê Văn Đức và tướng Nguyễn Công Trứ đang tiến đến Bảo Lạc, để làm phân tán quân triều, quân nổi dậy ở Thái Nguyên liền kéo sang đánh chiếm đồn Trinh (nay thuộc xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) ngày 25 tháng 10 (âm lịch) năm 1833, đuổi quân triều chạy đến đèo Bụt (nay thuộc xã Vĩnh Yên, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang). Buộc vua Minh Mạng phải ra lệnh cho Nguyễn Công Trứ cử quân xuôi sông Gâm đánh lấy lại đồn Trinh. Đây là một trong những trận đánh lớn của quân nổi dậy.
[3] Trích trong Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên, tr. 216-217) và Đại Nam chính biên liệt truyện (truyện "Lê Văn Đức", tr. 394). Phần Nguyễn Công Trứ bị xử ra sao chưa tra được.
[4] Sau, Quang Tiến trốn ra đầu thú, nói là mình chỉ trá hàng, song vẫn bị triều đình xử chết (Đại Nam chính biên liệt truyện, tr. 1042).
[5] Việt Nam sử lược chép vắn tắt: “Văn Vân chạy ẩn vào rừng. Phạm Văn Điển bèn vây 4 mặt, rồi phóng hỏa đốt rừng, Văn Vân bị chết cháy” (tr. 444). Ở đây chép theo Đại Nam chính biên liệt truyện (tr. 1051-1052) vì chi tiết hơn.

Sách tham khảo:
■Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm tổng tài), Đại Nam chính biên liệt truyện. Nhà xuất bản Văn học, 2004.
■Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm tổng tài), Quốc triều sử toát yếu(Tiền biên và Chính biên). Nhà xuất bản Văn học, 2002.
■Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm tổng tài), Đại Nam dư địa chí ước biên. Nhà xuất bản Văn học, 2003.
■Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1968.
■Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (Quyển 4). Tủ sách Sử học Việt Nam xuất bản, Sài Gòn, 1961.
■Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
■Nguyễn Phan Quang, Lịch sử Việt Nam (1427-1858), Quyển 2, Tập 2. Nhà xuất bản Giáo Dục, 1977.

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011

Khi không biết làm gì…



1.
Vốn sống mình như mảng rong rêu,
Sợ lập lại những gì đã nói…

Hơn mươi năm
Bị níu nơi ồn ào, bụi khói
Bán buôn ở đó. Làm thơ ở đó
Thi thoảng ngó mong,
Chờ gió.

Mỗi khi không biết làm gì
Tôi thường ngó lên những ô cửa sổ
Mường tượng nếu không có nó,
Người ta ngột ngạt như thế nào
Có thể, ngột ngạt cả chiêm bao
Cả mùa xuân đã mất…

Mỗi khi không biết làm gì
Tôi thường dõi theo những khuôn mặt
Lẫn dòng xe cộ ngược xuôi
Thử đoán họ đến đâu,
Cần chi mà tất bật ?…

2.
Đôi khi. Đang viết bất chợt dừng
Có gì cộm lên trong thân cá hộp
Đôi khi.
Muốn mà không thể hát
Cho những gánh đời nổi nênh …

Đôi khi. Như là dòng nhỏ không tên
Len lỏi mát cánh đồng nhọc nhằn của cha, của mẹ
Nơi nẻo khuất có người chị trẻ
Thường về - ế ẩm trái, hoa
Nơi bếp chiều của người bỏ đi xa
Lấy chồng “ngoại” gấp ba số tuổi
(nghe đâu của tiền thừa thãi,
Tình riêng như tảng băng chìm)

*

Tôi biết, phải đứng lên
Quét vỉa hè bẩn chật…

Bùi Thụy Đào Nguyên

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011

Trường Lũy Quảng Ngãi


Một đoạn Trường Lũy

Trường Lũy Quảng Ngãi (gọi tắt là Trường Lũy), hay Trường Lũy Quảng Ngãi-Bình Định, Tĩnh Man trường lũy (gọi theo sử Nguyễn); đều là tện gọi của một công trình kiến trúc lớn, đa dạng, nhiều phần được làm bằng đá hoặc đất, chạy dọc theo miền thượng đạo Quảng Ngãi-Bình Định, bắt đầu từ huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) đến huyện An Lão (Bình Định) thuộc Việt Nam [1]. Theo nhiều nhà nghiên cứu, thì đây là một trường lũy dài nhất Đông Nam Á, và đã được các chúa Nguyễn cho khởi xây từ thế kỷ 17. Song, lúc bấy giờ chỉ là những đồn canh và đoạn lũy ngắn, phải đến sau 1819 (năm Lê Văn Duyệt xin dựng), thì nó mới thật sự trở thành một “trường lũy” có tầm vóc. Cho nên nói rằng Lê Văn Duyệt là người khởi công xây dựng "Trường Lũy Quảng Ngãi" như sử Nguyễn đã chép, xét cũng không có gì mâu thuẫn.

1. Nguyên nhân, năm khởi dựng:
Trước triều đại nhà Nguyễn, vì nhiều nguyên nhân, một số dân tộc ở Đá Vách (Quảng Ngãi, phần đông là tộc người H’rê) đã nổi lên chống đối triều đình. Tuy nhiên, việc chống đối này trở nên quyết liệt hơn kể từ khi vua Gia Long lên ngôi. Sách “Quốc triều sử toát yếu” (phần Chính biên) chép:
“Tháng 4 năm Quý Hợi (1803), Lê Văn Duyệt phá tan mọi Đá Vách. Ngài (Gia Long) hạ chiếu khen thưởng” [tr. 81].

Mặc dù vậy, vẫn không sao tiêu diệt được. Sách “Đại cương lịch sử Việt Nam” (Quyển I) có đoạn:
... “Bị đàn áp, quân Vách Đá rút vào rừng, rồi tiếng tục hoạt động suốt thời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị,...Nhiều binh tướng triều đình bị sát hại. Cho đến trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, những cuộc đánh phá của người Đá Vách vẫn tiếp tục, buộc triều đình Tự Đức luôn luôn lo lắng” [tr. 462].

Để chặn đứng nguy cơ "bị uy hiếp, tràn lấn của ác man Đá Vách", năm Gia Long thứ 18 (1819), Tả quân Lê Văn Duyệt xin đắp "lũy Bình Man" (nay gọi là Trường Lũy Quảng Ngãi, vì phần lớn lũy nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi) và được vua chấp thuận. Sách “Vũ Man tạp lục thư” (được khắc in năm 1898 dưới triều vua Thành Thái) của Tĩnh Man tiễu phủ sứ Nguyễn Tấn, chép:
“Năm Gia Long thứ 18 (1819), Lê Văn Duyệt tâu xin xây Trường lũy, nam giáp ranh giới huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định; bắc giáp ranh giới huyện Hà Đông (thuộc phủ Tam Kỳ), tỉnh Quảng Nam. Dọc theo lũy có đào hào trồng tre, trước lũy là vùng Man, sau lũy có xây đồn”...[Dẫn lại theo Việt Nam thế kỷ XIX (tr. 216-217)]

Tương tự, sách “Viêm Giao trưng cổ ký” (Ghi chép sưu tập di tích cổ nước Nam) của Tổng tài Quốc sử quán Cao Xuân Dục, hoàn thành năm 1900, chép:
Năm thứ 18 (1819), Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt đắp Trường lũy, trồng hàng rào, đào hào chắn [tr. 194.].

Tuy nhiên, theo một số nhà nghiên cứu gần đây, thì Trường Lũy đã được các chúa Nguyễn cho khởi xây từ thế kỷ 17. GS Phan Huy Lê nêu ý kiến:
Theo ghi chép của sử sách thì người xây dựng đầu tiên là tướng Lê Văn Duyệt, sau đó là tướng Nguyễn Tấn, hai người đều quê Quảng Ngãi. Như vậy thì sử chép Trường Lũy chỉ xây dựng trong thời Gia Long - Minh Mạng, nhưng kết quả khai quật đã cho thấy các lũy này được xây dựng vào thế kỷ 17. Các mảnh gốm tìm được có xuất xứ từ nước ngoài, rồi có cả gốm sứ ở Quảng Ngãi, gốm Bát Tràng, gốm phía Bắc. Điều này cho chúng ta thấy lịch sử của Trường Lũy này không chỉ có dưới thời nhà Nguyễn. Lũy này có lịch sử lâu dài, là kết quả của sự xây đắp và tu bổ qua nhiều đời [2].

Tin theo đây, thì Tả quân Lê Văn Duyệt chỉ là là người có công tu sửa và bồi đắp thêm lũy cổ, và công việc này về sau còn phải làm nhiều lần. Tra trong “Viêm Giao trưng cổ ký” thấy có đoạn:
Trải lâu năm lũy bị đổ nát, nhiều toán quân Man vượt quan lũy đến cướp bóc các làng dưới xuôi. Năm Tự Đức thứ 8 (1855), trùng tu Trường lũy [tr. 195].

Tra trong “Đại Nam thực lục” (Tập 28), cũng thấy có thông tin đại ý như sau:
Tháng 4 năm Bính Thìn (1856), “dân hơn 60 xã, thôn, trại, ấp ở ba huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa (nay là Tư Nghĩa), Mộ Đức ủy người về kinh (Huế) kêu xin, vì tình hình khổ quá, (mà) phải đi đắp đê dài..., công việc quá nặng, khó gánh chịu nổi”. Tháng 3 năm sau (1857), bố chính Quảng Ngãi là Phạm Tỉnh lại tâu xin đắp “Trường lũy” một cách quy mô, tập trung ngót 2500 binh lính và huy động dân đinh ba huyện 3700 người. Tự Đức đồng ý, lại còn ra lệnh khẩn trương sửa đắp xong trong trong ba tháng [tr. 224 và 838]

2. Kích thước, địa thế, cấu tạo:
Trường Lũy Quảng Ngãi, các tài liệu ghi không thống nhất. Theo “Đại Nam thực lục” thì lũy có chiều dài là 117 dặm, còn sách “Viêm Giao trưng cổ ký” thì ghi là 177 dặm [3]. Sở dĩ có sự khác biệt này, có lẽ là do độ dài của Trường Lũy ở thời điểm được ghi chép.

Song, trong các công bố gần đây, độ dài của công trình vẫn còn nhiều khác biệt:
-Sau nhiều năm nghiên cứu (2005-2010), tại Hội nghị thông báo khảo cổ học năm 2010 tại Hà Nội, đoàn khảo sát thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp, Viện Khảo cổ học (Hà Nội), đã cho biết độ dài của lũy từ Ba Tơ vào đến Bình Định là 300 km, riêng đoạn thành chạy trên đất Bình Định là 30 km.
-Theo bài viết "Sức hút kỳ lạ từ Trường Lũy" trên báo Pháp luật (bản điện tử) thì Trường Lũy chỉ dài 133 km.
-Theo TS. Nguyễn Tiến Đông (Viện Khảo cổ học Việt Nam), thì Trường lũy có chiều dài xấp xỉ 200 km.

Về mặt địa thế, lũy nằm theo con đường thượng đạo Bắc Nam, nơi từng là lộ trình cho các cuộc hành quân lịch sử thời xưa. Như vào năm 1786, khi quân Tây Sơn kéo từ Thị Nại ra đánh lấy Phú Xuân, họ đã dùng con đường thượng đạo này để di chuyển mà không bị cản trở như ở hạ nguồn vì nơi đó có những cửa sông lớn chắn lối.

Về cấu tạo, Trường Lũy đắp bằng đất và đá (to bằng đầu người), cao 2m, dày 1,5m, phía ngoài có hào sâu rộng trên 3m và một hàng rào tre gai. Khảo sát bờ Trường Lũy chạy qua La Vuông (Bình Định) còn khá nguyên vẹn, thì thấy lũy có dáng hình thang, chân rộng 4-5m, mặt thành 2-3m có thể đi lại tuần tra thuận tiện. Tuy đây là một ranh giới nhưng không phải là một ranh giới đóng kín. Lũy cắt ngang qua nhiều sông, suối. Mỗi chỗ cắt ngang lại có một cổng, do một đồn bảo canh gác điều hành việc đi lại giữa cộng đồng người Việt và người H’rê.

Song cái đáng chú ý của Trường Lũy không chỉ ở độ dài, mà còn vì công trình được đắp hoàn toàn trên một địa hình rất khó khăn và phức tạp, gần như theo địa hình, hướng thành không theo một hướng nào nhất định, khi thì trên đỉnh núi, khi thì sườn đồi, dọc theo suối. Phải là người uyên bác mới tính toán được vậy, và phải tốn biết bao công sức của bao thế hệ người Việt mới được vậy.

3. Lịch sử sơ lược:
Sách “Viêm Giao trưng cổ ký” của Tổng tài Quốc sử quán Cao Xuân Dục, đã kể về lịch sử của Trường Lũy như sau:
Trường lũy người Man ở cách tỉnh thành 23 dặm về phía tây. Phía bắc lũy giáp huyện Hà Đông (thuộc phủ Tam Kỳ) tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp huyện Bồng Sơn tỉnh Bình Định. Lũy dài 177 dặm. Xét: Một dải dọc theo ranh giới xung quanh tỉnh thành trước nay thường có bọn ác man Thạch Bích ngang ngạnh hoành hành. Hồi đầu dựng nước đã lập ra 6 đạo binh lính bám sát địa phương để phòng thủ.
Năm Gia Long thứ 3 (1804) lập ra 6 kiên cơ đạo Bình Man. Năm thứ 18 (1819), Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt đắp Trường lũy, trồng hàng rào, đào hào chắn. Bên trong thiết lập 115 đồn bảo, mỗi đồn đóng 18 lính, tổng cộng 1.150 người. Lại lấy các xã thôn thượng du của 3 huyện đặt làm 27 lân theo binh lính của 6 Kiên cơ tiến hành phòng thủ...Mỗi lân đặt ra chức Cai lân, Phó lân để cai quản.
Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi 6 Kiên cơ thành 6 cơ Tĩnh Man, xây thêm đồn bảo vệ, thành 117 đồn. Năm thứ 17 (1836), trích cơ thứ 6 ra lập thành vệ Nhất Quảng Ngãi, tùy theo tình hình địa bàn mà bổ sung thêm cho 5 cơ còn lại để tiện cho kế hoạch ứng phó. Năm thứ 20 (1830), chuyển giao cho Lãnh binh của tỉnh quản lãnh công việc này.
Sang đời Thiệu Trị, cắt giảm số đồn xuống chỉ còn 56 đồn, số lính của 5 cơ là 2.150 người, mỗi cơ đặt ra một viên Chánh Quản cơ và một viên Phó Quản cơ, mỗi đồn đặt một viên Suất đội, đóng ở các cửa tấn để phòng thủ, tất cả do viên Lãnh binh cai quản chung.
Trải lâu năm lũy bị đổ nát, nhiều toán quân Man vượt quan lũy đến cướp bóc các làng dưới xuôi. Năm Tự Đức thứ 8 (1855), trùng tu Trường lũy. Năm thứ 9 (1856), chia đặt ra 80 đồn, bổ sung thêm binh lính thành 8 cơ, chia thành 3 ban, cứ 2 tháng thay phiên nhau một lần. Năm thứ 10 (1857), đặt chức Tuần phủ 1 viên, về sau lại bãi. Năm thứ 16 (1863), đặt chức Tiễu phủ 1 viên, Phó lãnh binh 1 viên để khi có xảy ra việc thì cùng bàn bạc với nhau mà giải quyết. Năm thứ 17 (1864), lại đổi 8 cơ thành 6 cơ, mỗi cơ 10 đội, lại kén tuyển lính chiến thành 1 vệ, vệ có 12 đội, chiêu mộ 5 đội Nghĩa Hùng, 2 đội Tĩnh Man, đặt 3 đồn lớn Tĩnh Man, còn các cơ đồn khác tùy xét mà cắt giảm. Những nơi xung yếu thì do binh lính của cơ đóng giữ, nơi dễ dàng hơn thì do dân của các lân canh giữ. Hiện nay chỉ còn 47 đồn nhỏ, 3 đồn lớn, tổng cộng 50 đồn [tr. 194-195.].

4. Vai trò của Trường Lũy đối với nhà Nguyễn:
Trường lũy xưa, triều Nguyễn xây dựng mang tính chất phòng vệ, song hiệu quả không cao, vì “quân Đá Vách dùng lối đánh du kích ẩn hiện khó lường, mà quân triều từ nơi khác đến đóng giữ lâu ngày không quen thủy thổ”, và vì họ đều có “tài nghệ chiến đấu” . Tướng Nguyễn Tấn trong “Vũ Man tạp lục thư”, kể:
Người Man ở tỉnh tôi, tính tình hung hãn, đi đứng chạy nhảy lanh lẹ, đến như luồng điện sáng, đi tựa ánh chớp. Dựa vào nơi hiểm yếu, bắn tên phóng lao, đó là môn sở trường của họ vậy...Trước đây quan binh đã từng bị chúng đánh thua, và chẳng phải là một lần mà thôi [tr. 219 và 220.].

Rút lại, theo GS. Nguyễn Phan Quang trong Việt Nam thế kỷ XIX, thì:
Trải qua các triều vua từ Gia Long đến Tự Đức, “lũy bình Man” liên tiếp được củng cố, đồn bảo trên lũy liên tiếp được sửa đắp, tăng cường, nhưng triều Nguyễn vẫn không sao đè bẹp được cuộc đấu tranh của các dân tộc Đá Vách. Ngay tác giả "Vũ Man tạp lục thư" cũng đã thú nhật sự bất lực của Trường lũy: "...Kế sách phòng bị quá chu đáo, chặt chẽ, không gì lọt qua được, tuy nhiên không có gì tốt hơn là giữ được (lòng) người vậy" [tr. 220].

5. Được trong và ngoài nước chú ý:
Ngày 27 tháng 3 năm 2011, đoàn đại sứ các nước Châu Âu gồm: Pháp, Ba Lan, Hungary, Anh, Hy Lạp, Romania và Trưởng phái đoàn EU tại Việt Nam Sean Doyle cùng các nhà khoa học nước ngoài cùng UBND tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức hội thảo “Lịch sử quan hệ kinh tế và dân tộc” về di tích quốc gia Trường Lũy Quảng Ngãi.

Tại hội thảo, tham luận của các nhà khoa học đều thống nhất rằng:
-Trường Lũy không những chỉ có nhiệm vụ bảo vệ an ninh và quản lý nội địa; mà còn tạo điều kiện cho giao thương, mua bán giữa đồng bào miền ngược và miền xuôi, giữa miền núi và miền biển.
-Công trình không chỉ có ý nghĩa lớn về giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội, là đường ranh giới đảm bảo về sự ổn định và hòa bình, là nơi giao thương mà còn có giá trị lớn về mặt quân sự, là cơ sở để quản lý, tạo mối quan hệ hòa hợp, gắn kết giữa cộng đồng các dân tộc.
Hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi đã thống nhất giữ nguyên hiện trạng Trường Lũy trên cơ sở lấy Trường Lũy làm tâm, dọc theo hai bên lũy 500m là khu vực di tích.
Theo kỳ vọng của ngành chức năng, với di tích Trường Lũy, không chỉ là việc nghiên cứu mà còn tạo ra cơ hội về du lịch. Những cư dân sống dọc Trường Lũy sẽ có cơ hội về công ăn việc làm

Ngày 10 tháng 3 năm 2011, Trường Lũy Quảng Ngãi đã chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp Quốc gia.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Trường Lũy chạy dọc theo dãy Trường Sơn, đi qua địa phận 6 huyện thuộc Quảng Ngãi, gồm: Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Ba Tơ, Đức Phổ; và 2 huyện thuộc Bình Định, gồm: Hoài Nhơn, An Lão).
[2] Trích trong bài viết "Giải mã Trường lũy dài nhất Đông nam Á" trên báo Thể thao Văn hóa (bản điện tử)
[3] nếu tính 1 dặm là 444,44m (số đo cổ được áp dụng thời Nguyễn) thì 117 dặm chỉ hơn 50 km. Nếu là 177 dặm thì chưa đầy 80 km.

Tài liệu tham khảo:
-Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 28 (bản dịch). Nhà xuất bản Sử học và Nhà xuất bản Khoa học xã hội hợp tác ấn hành, Hà Nội, 1962-1972.
-Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên, bản dịch). Nhà xuất bản Văn học, 2002.
-Cao Xuân Dục, Viêm Giao trưng cổ ký (bản dịch). Nhà xuất bản thời đại, 2010.
-Trương Hữu Quýnh-Phan Đại Doãn-Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập I). Nhà xuất bản Giáo dục, 2007.
-Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

Trần Trọng Khiêm, người Việt đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ

Trần Trọng Khiêm (1821-1866), sau đổi tên là Lê Kim [1]; là người Việt đầu tiên đến Hoa Kỳ. Sau khi từ bỏ việc đi tìm vàng, ông trở thành nhà báo Việt đầu tiên ở đây, rồi sau nữa ông trở thành một chỉ huy trong công cuộc chống Pháp do Võ Duy Dương lãnh đạo tại Đồng Tháp (Việt Nam) ở giữa thế kỷ 19.

Ông sinh năm Tân Tỵ (1821) tại làng Xuân Lũng, huyện Sơn Vi (nay là huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà, nổi tiếng hay chữ, nhưng không đi thi. Năm 20 tuổi, ông lập gia đình với người họ Lê cùng làng, rồi theo nghề buôn bán gỗ ở Bạch Hạc (Việt Trì) và Phố Hiến (Hưng Yên).

1. Trả thù cho vợ, rồi trốn ra nước ngoài:
Năm 1843, vợ ông Khiêm bị một viên chánh tổng hại chết vì chiếm đoạt bà không được. Căm giận, ông giết chết ông này để trả thù cho vợ, rồi trốn đến Phố Hiến, xin làm thủy thủ cho một tàu buôn nước ngoài.

Sau khi lần lượt trải qua Hương Cảng (Hồng Kông), Anh, Hà Lan,...cuối cùng ông đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ) vào khoảng năm 1849. Tại đây, ông gia nhập vào đoàn người ô hợp do Mark (người Canada) lập nên, để đi tìm vàng ở miền Viễn Tây Hoa Kỳ.

Năm 1854, chán cảnh hỗn độn, truỵ lạc và cướp bóc ở nơi ấy, ông tìm đến California, làm công việc chạy tin tự do cho vài tờ báo như tờ Alta California, Morning Post, và làm biên tập viên cho tờ nhật báo Daily Evening. Đề tài mà ông thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai khoáng ở bắc California và quanh khu vực San Francisco...Kiếm sống như vậy khoảng hai năm, nhân một chuyến tàu sang Hương Cảng, ông xin theo, rồi nhập tịch Trung Quốc.

2. Trở về nước, tham gia chống Pháp:
Sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về nước. Nhưng vì sợ bị bắt, nên ông không về quê mà vào Định Tường (Nam Kỳ) để khai hoang lập nghiệp, trong thân phận là một người Minh Hương. Và ông là một trong những người đầu tiên đứng ra khai phá, lập nên làng Hòa An thuộc phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường xưa (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp).

Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương (lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ của ông là làng Xuân Lũng).

Năm 1864, quân Pháp đã đánh chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, sau đó họ lần lượt mở các cuộc tấn công ba tỉnh miền Tây còn lại. Để cản ngăn quân xâm lược, Trần Trọng Khiêm tình nguyện theo thủ lĩnh Võ Duy Dương (1827-1866) mộ quân chống lại. Sau đó, ông được giao chỉ huy một đội quân, và đã đụng độ với quân Pháp nhiều trận ở Mỹ Trà (nay thuộc thành phố Cao Lãnh), Cao Lãnh, Cái Bè, Cai Lậy,...

3. Tuẫn tiết:
Năm 1866, trong một đợt truy quét của quân Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, đồn quân do Trần Trọng Khiêm cai quản bị thất thủ. Không chịu bị bắt, ông đã tuẫn tiết. Năm ấy, ông mới 45 tuổi. Sau đó, thi hài ông được nghĩa quân chôn cất tại Gò Tháp (nay thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp).

Theo Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim (tức Trần Trọng Khiêm) gìn giữ, thì trước khi mất, ông căn dặn vợ lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi dạy con; đồng thời căn dặn các con sau này luôn giữ gìn đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng tham vàng bỏ ngãi nghĩa..

Cảm phục tấm gương "vì nước quên thân" của Trần Trọng Khiêm, có người làm đôi câu khắc trên mộ ông:

Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần Hùng Nhị [2] còn truyền hậu thế.


Ghi công ông, hiện ở quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm.

Cuộc đời sinh động và bi hùng của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) được hai nhà văn (một Pháp, một Việt) hư cấu nghệ thuật trong hai tiểu thuyết có nhan đề là: “La rueé vers l'or” (Đổ xô đi tìm vàng) của Rene Lefebre (nhà xuất bản Dumas, Lyon, 1937) và “Con đường thiên lý” của Nguyễn Hiến Lê (viết xong năm 1972, in năm 2001).

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
1.Trong tiểu thuyết La rueé vers l'or ghi tên ông là Lee Kim.
2. Rất có thể là "(núi) Nùng (sông) Nhị", nhưng do chép sai hoặc lỗi lúc in ấn.

Sách báo tham khảo:
-Nguyễn Hiến Lê, “Con đường Thiên lý”. Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, 2001.
-Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”. Mục từ “Trần Trọng Khiêm”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.
-Bài viết về "Trần Trọng Khiêm" trên website Lịch sử Việt Nam (http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=560&Itemid=34)
-Bài viết "Người Việt đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ" trên Công an Nhân dân online đăng ngày 9 tháng 2 năm 2011 (http://www.cand.com.vn/vi-VN/cstc/2011/2/144147.cand) .

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

Danh thần triều Nguyễn: Trương Đăng Quế (1793-1865)

Trương Đăng Quế (chữ Hán: 張登桂, 1793-1865), tự: Diên Phương, hiệu: Đoan Trai, biệt hiệu: Quảng Khê; là danh thần trải 4 triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trong lịch sử Việt Nam. Trong 43 năm làm quan, có 20 năm ông giữ trọng trách lớn (có hai lần nhận di chiếu tôn phò vua mới). Ngoài ra, ông còn là nhà thơ, nhà sử học, là thầy học của vua Thiệu Trị và một số quý tộc nổi tiếng khác, trong đó có Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương.

I. Thân thế:
Trương Đăng Quế sinh ngày 1 tháng 11 năm Quý Sửu (1793) tại làng Mỹ Khê, xã Tịnh Khê (còn có tên là Mỹ Lại), huyện Bình Sơn (nay là Sơn Tịnh), tỉnh Quảng Ngãi.

Tiên tổ của ông là người huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Lê Hy Tông thứ 10 (1622), tổ đời thứ sáu là Trương Đăng Trường vào Nam, làm quan đến Cai quản, tước Nham Lĩnh bá. Nhân thế, ông Trường làm nhà ở tại làng Mỹ Khê.

Trải qua bốn đời truyền nối làm quan, đến đời cha ông Quế là Trương Đăng Phác, làm Tri phủ cho triều Tây Sơn. Vợ ông Phác là bà Đỗ Thị Thiết, sinh hạ được 8 người con (4 trai, 4 gái), trong đó Trương Đăng Quế là người con thứ 5.

II. Sự nghiệp:
2.1 Làm quan trải bốn triều:
Thuở nhỏ, Trương Đăng Quế có tiếng văn hay. Năm 1801, khi ông lên tám tuổi, thì cha mất. Tuy nhiên, nhờ chăm học, năm Gia Long thứ 18 (Kỷ Mão, 1819), ông đỗ Hương tiến (tức Cử nhân, đây là học vị cao nhất lúc bấy giờ). Theo sử Nguyễn thì ông chính là người "đầu tiên" ở Quảng Ngãi đạt được học vị này [1].

-Dưới triều Gia Long, Minh Mạng:
Ban đầu, ông được bổ làm Hành tẩu bộ Lễ dưới triều Gia Long. Năm Minh Mạng thứ nhất (1820), ông được thăng Biên tu. Biết ông là người có nhân cách và tài học, nhà vua sung ông làm Hoàng tử trực học để dạy các hoàng tử.

Sau đó, ông lần lượt trải các chức: Thị độc sung Tán Thiện (1826), Thượng bảo thiếu khanh quản lý phòng văn thư (1828), Thị lang bộ Công sung làm việc ở Nội các (1830); lại đổi sang bộ Lễ sung chức khảo trong kỳ xét hạch giáo chức các tỉnh tại Quốc Tử Giám ở Huế (tháng 6 năm 1830).

Năm 1831, vua Minh Mạng sai ông đi Bắc Thành điểm ngạch sổ binh, khi về được nhắc lên Tham tri bộ Hộ kiêm quản Vũ khố, sung chức Độc quyển thi trong kỳ thi Đình. Tiếp theo, thăng ông lên làm Thượng thư bộ Binh, kiêm giữ ấn triện viện Đô sát, sung Cơ mật viện đại thần.

Năm 1833, Lê Văn Khôi khởi binh chống Nguyễn ở Gia Định. Là Thượng thư bộ Binh, Trương Đăng Quế lo trù tính phương cách đối phó. Đến tháng 7 năm 1835, cuộc nổi dậy này bị đánh dẹp, xét công, ông được thưởng hàm Thái tử thiếu bảo, sung Chủ khảo kỳ thi Hội.
Đầu năm 1836, nhà vua chọn ông làm Kinh lược đại thần đi kinh lý 6 tỉnh Nam Kỳ. Hoàn thành tốt công việc, ông được khen và được thăng Hiệp biện Đại học sĩ, sung Cơ mật viện, nhưng vẫn coi giữ bộ Binh.

Khoảng thời gian ấy có Quách Tất Công và Quách Tất Tại, sau khi bị đánh thua trong cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương ở vùng Hòa Bình, lại tôn phò Lê Duy Hiển khởi binh chống Nguyễn ở Thanh Hóa. Quan quân đánh dẹp mãi không xong. Thấy vậy, Trương Đăng Quế bèn xin đi, được vua sung chức Kinh lược sứ tỉnh Thanh Hóa (cuối năm 1836). Thắng trận trở về, ông được gia thưởng Kỷ lục quân công (1837). Cũng trong năm này, ông được cử quản lý Khâm thiên giám.

Năm 1838, cho ông kiêm coi Quốc tử giám ở Huế, lại sung làm Chủ khảo kỳ thi Hội và Độc quyển kỳ thi Đình.

Năm 1839, tấn phong ông là Tuy Thịnh nam, sau lại kiêm giữ ấn triện bộ Lễ.

Năm 1840, sung ông chức Tổng lý coi việc làm lăng của vua. Cũng trong năm này, ông nhận di chiếu của vua Minh Mạng tôn phò Nguyễn Phúc Miên Tông (tức vua Thiệu Trị) lên ngôi.

-Dưới triều Thiệu Trị:
Thiệu Trị năm đầu (1841), nhà vua chuẩn cho Trương Đăng Quế làm Văn Minh điện Đại học sĩ, gia hàm Thái bảo, quản lý bộ Binh, kiêm Cơ mật viện, kiêm sung chức Tổng tài ở Quốc sử quán.

Năm 1842, nhà vua đi tuần ra Bắc, sung ông làm Ngự tiền đại thần. Khi về, nhà vua tấn phong cho ông tước tử, và thưởng một đồng kim tiền hạng nhất.

Năm 1844, vì có bệnh, Trương Đăng Quế xin phép nghỉ. Trong khoảng thời gian này, ông xin bổ dùng con cháu của Mạc Thiên Tứ, được vua nghe theo.

Năm 1846, nhà vua gả con gái là An Mỹ công chúa cho con trai ông là Trương Đăng Trụ.

Năm 1847, vua Thiệu Trị tấn phong Trương Đăng Quế lên tước Tuy Thạnh bá, và cho khắc tên vào cỗ súng lớn có tên là “Bảo đại định công” (cỗ thứ nhất). Tháng 9 năm này, lại sung ông làm Phụ chính đại thần, nhận di chiếu tôn phò Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (tức Tự Đức) lên kế vị.

-Dưới triều Tự Đức:
Sau khi lên ngôi, Tự Đức phong ông làm Công chính điện đại học sĩ, tấn phong tước Tuy Thạnh Quận công. Năm Tự Đức thứ 2 (1849), bắt đầu đặt viện Tập hiền, Trương Đăng Quế được cử làm Kinh diên giảng quan.

Tháng Giêng năm sau (1850), ông nhận mệnh đi duyệt binh. Kỳ đại kế [2] năm ấy, ông được vua ban thưởng một kim khánh có khắc 4 chữ “Tam Triều Thạc Phụ”.

Năm 1853, nhà vua lại sung ông làm Chánh sứ Bắc Kỳ hà đê. Sau khi đi kinh lý miền Bắc trở về, đề xuất việc sửa sang đê điều, đều được nhà vua nghe theo. Sau đó, lấy cớ sức yếu, ông xin thôi việc, được vua chấp thuận và cho giữ nguyên phẩm hàm. Nhưng chỉ được ít lâu, thuận theo lời tâu của các quan đứng đầu sáu bộ, nhà vua lại triệu ông vào triều tiếp tục giữ bộ Binh. Năm 1855, Trương Đăng Quế xin về hưu, nhưng nhà vua không cho.

Tháng 7 (âm lịch) năm 1858, có 12 chiếc tàu Pháp đến bắn phá các bảo đài ở cửa Hàn (Đà Nẵng, lúc bấy giờ thuộc tỉnh Quảng Nam). Theo sử Nguyễn, buổi đầu ông cùng Phan Thanh Giản đều tâu là “chiến không bằng hòa”. Tuy nhiên theo ông Quế, thì trước khi hòa, “cần phải giữ vững đã”. Được vua cho là phải, sau đó ông nhận lệnh đi khắp Quảng Nam đôn đốc việc xây đắp đồn lũy để phòng thủ...[3]

Sau khi bị ngăn cản ở Đà Nẵng, quân Pháp kéo vào Nam, đến tháng 2 năm 1859, thì thành Gia Định bị đối phương đánh hạ. Thấy quân xâm lược cứ lấn tới, mà mình thì đã già không thể làm tròn trọng trách, tháng 9 (âm lịch) năm 1860, Trương Đăng Quế xin về nghỉ. Trích lời tâu của ông:
Từ người Tây dương (chỉ quân Pháp) sang đây đã 3 năm nay, thần ê mặt với các quan trong triều, vì không thi thố được một kế nào để đuổi chúng lui, thì tội (của thần) tránh sao được...(Nay thần) lại bóng dâu gần ngã, tật bệnh liên miên, hầu như sắp chết, nghĩ thẹn vì cố giữ địa vị...
Lần này, nhà vua cho ông về nhà riêng dưỡng bệnh, 10 ngày hoặc 5 ngày mới phải vào chầu một lần [4].

Năm Tự Đức thứ 15 (1862), Trương Đăng Quế lại dâng sớ xin về nghỉ hưu. Theo lời bàn của đình thần, nhà vua cho ông thôi giữ bộ Binh, vì ở đó lúc này rất nhiều việc. Trương Đăng Quế lại dâng sớ xin giáng hàm Thượng thư và bỏ tước Quận công, vì để cho "bốn cõi nhiều loạn, là sự nhục của khanh đại phu, là không làm tròn chức vụ của thần". Vua không chuẩn cho. Trương Đăng Quế lại dâng sớ nói: Thần không có kế gì để đẩy lui được giặc, nay xin đem một nửa số lương bổng (của thần) lưu lại ở kho để giúp quân phí...Nhà vua phải gượng làm theo ý ấy [5]

Sau, Trương Đăng Quế còn dâng sớ xin về hưu mấy lần nữa, vua Tự Đức mới thuận cho ông về nghỉ hẳn tại quê nhà vào tháng 3 (âm lịch) năm 1863. Mặc dù vậy, khi có việc hệ trọng, nhà vua cũng thường cử người đi hỏi ý kiến ông. Có lần, được nhà vua hỏi về việc nước, ông gửi sớ tâu 5 điều, trong đó đáng chú ý là: "Đường lối trị nước, cần ở dùng người, nhất là quan lại cấp huyện; Muốn quan thanh liêm, không gì bằng bớt viên chức đi, mà tăng lương bổng; Của dùng thiếu, tùy theo trường hợp, có thể cho phạm nhân được nộp thóc hay vàng chuộc tội",...Sớ tâu này được vua giao cho đình thần bàn bạc để thi hành [6].

Tháng 2 (âm lịch) năm Ất Sửu (1865), Trương Đăng Quế lâm bệnh nặng mất ở tuổi 72. Nghe tin, nhà vua cho nghỉ triều 3 ngày, truy tặng ông hàm Thái sư, ban tên thụy là Văn Lượng, cho khắc trên bia mộ dòng chữ: Lưỡng triều cố mệnh lương thần Trương Văn Lượng chi mộ (nghĩa là mộ của bề tôi giỏi chịu mệnh tiên đế phó thác qua hai triều là Trương Văn Lượng).

Năm Tự Đức thứ 28 (1876), nhà vua cho thờ ông trong Thế miếu tại Huế, theo lời dụ trước đây của vua Thiệu Trị.

2.2 . Điểm lược một số công lao nổi bật:
-Đóng góp cho văn học, sử học:
Vốn có một kiến thức uyên bác, một tâm hồn nhạy cảm và yêu thơ nên đi đến đâu ông cũng để lại nhiều bài thơ, được sử Nguyễn khen là "bình hòa điển nhã", được Phan Thanh Giản khen là: “Không có sách nào là ngài không đọc, lại sở trường thơ ca” [7]. Ông có chân trong trong Tùng Vân thi xã (còn gọi là Mặc Vân thi xã) do Tùng Thiện Vương (là học trò và là con rể ông) làm “chủ súy”.

Sáng tác của Trương Đăng Quế khá nhiều, tiêu biểu là các tập:
-Quảng Khê văn tập (Tập văn Quảng Khê)
-Trương Quảng Khê thi văn (Thơ văn Trương Quảng Khê)
-Trương Quảng Khê tiên sinh tập tự (Tuyển tập của tiên sinh Trương Quảng Khê)
Khi làm Tổng tài ở sử quán, ông tham gia biên soạn các bộ sử và điển lệ:

-Đại Nam liệt truyện tiền biên (Truyện các nhân vật nước Đại Nam, phần tiền biên)
-Đại Nam thực lục tiền biên (Ghi chép xác thực sử nước Đại Nam, phần tiền biên)
-Đại Nam hội điển toát yếu (Tóm lược những điều cốt yếu của điển lệ nước Đại Nam)
-Nam Giao nhạc chương (Âm nhạc lễ Nam Giao),...

Ngoài ra, thơ văn của ông còn được chép trong các sách: Đại Nam anh nhã tiền biên (Lời hay ý nhã của nước Đại Nam, phần tiền biên), Quốc triều hàn quyển (Vườn văn của bản triều), Thi tấu hợp biên (Hợp biên các bài thơ và tấu), Thịnh thế giai văn tập (Tập văn hay đời thịnh), Thúy Sơn thi tập (Tập thơ về núi Thúy Sơn), Từ uyển xuân hoa (Hoa xuân vườn văn),v.v...

Nói riêng về thơ Trương Đăng Quế, trong sách Từ điển văn học (bộ mới) có đoạn viết:
Thơ ông khoan hòa, điễn nhã…Phần nhiều là thơ xướng họa, đáp tặng, vịnh sử, vịnh cảnh…Nhưng trước hết thơ ông vẫn là tiếng nói trung hậu, ngay thẳng của một bậc đại thần danh vọng cả về tài năng và nhân cách [8].

-Lập địa bạ, đinh bạ Nam Kỳ năm 1836:
Đầu năm 1836, vua Minh Mạng cho là sáu tỉnh Nam Kỳ, sau khi xảy ra sự biến thành Phiên An, việc binh đinh, điền thổ cần phải sửa sang nên chọn Trương Đăng Quế làm Kinh lược đại thần đi kinh lý Nam Kỳ, và ông đã đến Sài Gòn ngày 24 tháng 2 năm đó.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, thì chỉ trong 5 tháng, Trương Đăng Quế đã hoàn tất mọi việc, và thành công nhất là công tác duyệt tuyển và đạc điền. Ông viết:
Cuộc kinh lý năm 1836 đã giải quyết nhiều việc như duyệt dân tuyển lính, thanh lọc hàng ngũ quan lại, xếp đặt thể lệ chuyển vận đường sông, chia cắt lại đơn vị hành chính, xếp đặt lính tráng bố phòng những đồn bảo trọng yếu, định thưởng, định việc thưởng phạt trong việc khai hoang lập ấp,v.v…Song đáng kể hơn cả là lập được đinh bạ và đia bạ cho mỗi thôn xã ở Nam Kỳ; đối với nhà nước, thì đỡ tình trạng trốn xâu lậu thuế hay lẩn vào bưng biền để “tụ tập khởi loạn”; đối với xã hội thì “bờ cõi đã đúng, kẻ giàu không được bá chiếm, người nghèo đều có tư sản”. Cách làm sổ bộ đó khá chính xác. Sau này, người pháp cai trị thuộc địa cũng rất thán phục, nhất là “địa bạ”, có trường hợp, đến đầu thế kỷ 20, họ vẫn lấy đó làm căn cứ để giải quyết các vụ tranh chấp ruộng đất.
Kết quả cụ thể của cuộc kinh lý năm 1836, là tạm thời làm chậm tình trạng phân hóa giai cấp ở nông thôn Nam Kỳ [9].

-Giúp trị an trong và ngoài nước:
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), vua Minh Mạng thăng Trương Đăng Quế lên Thượng thư bộ Binh. Kể từ đó, ông ra sức giúp việc trị an trong và ngoài nước.
Lược kể mấy việc nổi bật theo sử Nguyễn:
■Năm Minh Mạng thứ 14 (1833), Lê Văn Khôi ở Gia Định, Nông Văn Vân ở Cao Bằng cùng khởi binh chống Nguyễn. Thư cáo cấp liên tục gửi về kinh. Bấy giờ “Đăng Quế ngày đêm mưu tính, các việc được đúng khớp, đến sau việc yên. Quế được thưởng gia hàm Thái tử thiếu bảo”…[10]
■Năm 1836, khi nhận trọng trách đi kinh lược Nam Kỳ (1836), song song với việc lập đinh bạ và đia bạ cho mỗi thôn xã, Trương Đăng Quế còn xin và được chấp thuận việc đặt phủ lỵ, đồn bảo ở nơi trọng yếu để “bên trong làm phên che cho Gia Định được vững, bên ngoài làm cho tăng thêm thanh thế của Trấn Tây” (Chân Lạp) [11].
■Cuối năm 1836, thuận theo lời xin của Trương Đăng Quế, vua Minh Mạng sung ông làm Kinh lược sứ Thanh Hóa để tiễu trừ cuộc nổi dậy của Quách Tất Công và Quách Tất Tại. Đến nơi, ông cho quân đóng ở Lang Chánh rồi vừa chiêu an, vừa chia quân xây đánh. Tháng 3 (âm lịch) năm sau (1837), quan binh bắt sống được Quách Tất Tại. Đến tháng 4 (âm lịch), lại bắt sống được hai nhân vật trọng yếu của quân nổi dậy là Lê Duy Hiển (minh chủ) và Hoàng Nguyệt Đồng (quân sư, dọc đường cắn lưỡi chết). Sang khoảng tháng 5 (âm lịch) thì Thanh Hóa được yên, sau khi các viên chỉ huy quân nổi dậy bị bắt hoặc bị diệt gần hết.
Để giữ yên tỉnh Thanh lâu dài, Trương Đăng Quế xin đắp một bảo lớn (gọi là bảo Ninh Lương), đắp đồn ở động Khương Chánh và ở Trịnh Vạn...Ngoài ra, ông còn xin chia động Trịnh Vạn ra làm 2 tổng (Trịnh Vạn và Quân Nhân), đồng thời xin lấy tổng Như Lăng (thuộc huyện Nông Cống) và tổng Luận Khê (thuộc huyện Lôi Dương) làm thành châu Thường Xuân...Tất cả đều được vua y cho [12].
■Về việc giữ yên đất Chân Lạp và vùng đất biên giới phía Nam, trong sách Đại Nam chính biên liệt truyện có chép lời tâu của Trương Đăng Quế:
Vua (Thiệu Trị) nhân bàn đến việc Trấn Tây (Chân Lạp), Đăng Quế tâu: "Bọn thổ phỉ khởi loạn (ở Chân Lạp), cũng là do quan địa phương xử trí không khéo, không trách (bọn ấy) được...Nay Trấn Tây lui quân, thì Hà Tiên thế cô cần phải giữ được vô sự. Với Quảng Biên ruộng đất tốt màu, là bức tường che của Hà Tiên. Thần trộm nghĩ cho là không nên bỏ...[13]
Năm 1947, trong một sắc của vua Thiệu Trị, những đóng góp của ông về việc này lại được nói đến như sau:
Ta chịu mệnh trời đất Tổ khảo, cai trị nước Đại Nam. Năm trước đất miền Tây (thuộc Nam Kỳ) chưa được mở mang, thường lấy làm thẹn. Năm Ất Tỵ (1845), cất quân đi đánh nước Chân Lạp, dẹp được. Năm Bính Ngọ (1846), ta lên thọ 40 tuổi, đến 30 lần ân dụ ban ra, năm ấy nước Xiêm phục, nước Miên hàng, nộp lễ cống, chầu hầu. Năm nay (1847), tướng quân kéo về, tâu thắng trận, thôi không đi đánh, võ công cáo thành, sai công thần trông nom chế ra ba cổ súng đồng thượng tướng quân, truyền đến con cháu, giữ thứ bảo khí ấy lâu dài, không say mê tửu sắc, nghĩ làm việc mới, noi việc cũ, theo noi mưu mô công liệt, trọng văn tạp võ ức muôn năm làm mạnh nước Đại Nam ta. Vả lại, ngự ban cho cố mệnh lương thần, Thái bảo, Tuy Thạnh bá Trương Đăng Quế, trước kia vâng cố mệnh của tiên đế khi gần băng hà để lại, cùng ta trù tính việc biên cương, rồi thành tựu được võ công, giúp rập đức tốt, thực không phụ ơn tri ngộ. Vậy cho khắc vào cỗ súng thứ nhất[14].

-Là thầy giỏi, là viên quan tốt
Trương Đăng Quế là thầy học của vua Thiệu Trị và một số quý tộc nổi tiếng khác, trong đó có Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương. Các công chúa như Nguyệt Đình, Huệ Phố, Mai Am..., dù không theo học, nhưng vẫn xưng là học trò ông. Đương thời, ông được đông đảo giới trí thức lúc bấy giờ kính trọng về học vấn sâu rộng và nhân cách khiêm nhường [15].

Về vai trò của một ông quan, trong sách Đại Nam chính biên liệt truyện có đoạn chép về ông như sau:
(Trương Đăng) Quế lúc làm quan, giữ mình khiêm tốn, chính trực, kiến văn nhiều, xử đoán khéo, trài làm quan hơn 40 năm, ngồi ở chức Tể tướng; thế mà ăn mặc giản tiện sơ sài, không khác gì lúc còn chưa làm quan, và lại có tính siêng năng như bộc sạ họ Phòng (tức Phòng Huyền Linh), có mưu trí như Ngụy Công họ Hàn (tức Hàn Kỳ), đã biết thì không điều gì không nói, đã nói thì không có điều gì không nói hết lời. Triều đình lấy làm trọng, các tiên thánh vốn vẫn chọn dùng...Các danh thần lúc bấy giờ, như Tráng liệt bá Nguyễn Tri Phương, mà vua cũng bảo là phong độ không bằng (Trương Đăng ) Quế. Sau khi (Trương Đăng) Quế chết, hoàng thượng (Tự Đức) thương nhớ, triều đình lấy làm tiếc. Các hoàng thân, công chúa và sĩ phu trong ngoài đều làm thơ văn câu đối đem đến phúng. Ấy là (Trương Đăng) Quế làm cho người ta cảm mộ đến như thế...[16].

Ghi nhận công lao Trương Đăng Quế, hiện ở quận Gò Vấp thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có con đường mang tên ông.

III. Thông tin khác:
3.1 Liên quan đến việc "phế, lập":
Sau khi vua Thiệu Trị mất (1847), đình thần triều Nguyễn, đứng đầu là Trương Đăng Quế, đã đưa Nguyễn Phúc Hồng Nhậm lên nối ngôi theo di chiếu, lấy niên hiệu là Tự Đức. Việc “phế trưởng, lập thứ” này lập tức gây xôn xao dư luận đương thời. Người ta nghi rằng có sự mờ ám trong việc này và quy cho người gây nên mọi sự chính là Trương Đăng Quế. Từ đó nảy sinh hai nghi vấn:

-Nguyễn Phúc Hồng Nhậm chính là con ruột của đại thần Trương Đăng Quế, được đánh tráo làm con của vua Thiệu Trị, và vị đại thần này đã dùng quyền uy của mình ép nhà vua đưa Hồng Nhậm lên ngai vàng.
-Trương Đăng Quế tư thông với Thái hậu Từ Dũ, sinh ra Hồng Nhậm, nên hai người này đã tìm mọi cách đưa Hồng Nhậm lên kế vị.
Hai luồng dư luận trên, có lẽ, xuất phát từ một loạt các sự kiện liên quan đến việc tranh giành quyền lực giữa hai anh em là Nguyễn Phúc Hồng Bảo (con trưởng nhưng không được nối ngôi) – Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, và sự can thiệp của Trương Đăng Quế để bảo vệ ngai vàng của Hồng Nhậm (tức vua Tự Đức), dẫn đến việc Hồng Bảo “nổi loạn” vào năm 1851, bị vua Tự Đức tống giam và chết trong ngục thất vào năm 1854; và việc Đoàn Hữu Trưng cầm đầu “Loạn Chày vôi” vào tháng 9 năm 1866, âm mưu lật đổ vua Tự Đức, đưa con trai của Hồng Bảo là Ưng Đạo lên ngai vàng, nhưng đã bị thất bại. Tuy nhiên, cũng có ý kiến phản bác các lời đồn đãi trên, và tìm cách chứng minh sự vô can của Trương Đăng Quế trong việc “phế, lập” của vua Thiệu Trị, và cũng không hề có chuyện dan díu giữa vị Cố mệnh đại thần này với Thái hậu Từ Dũ. Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề "vua Tự Đức là con của ai?" vẫn còn là một nghi vấn.

3.2 Hậu duệ:
Đại thần Trương Đăng Quế có 5 con trai:
-Trương Đăng Trụ lấy công chúa An Mỹ, được bổ làm Phò mã Đô úy, tập phong tước hầu.
-Trương Quang Đản lấy Ngọc Lê quận chúa, làm quan trải đến chức Phụ chính đại thần, Tổng tài Quốc sử quán.
-Trương Văn Để, được bổ làm Chủ sự, dần trải đến chức Tham tri bộ Binh. Năm 1885, ông phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, nhưng vì bệnh phải ở lại Cam Lộ. Sau vâng ý chỉ của Tam cung đưa xa giá về kinh (Huế), nên theo vua không kịp, rồi ốm chết ở Quảng Trị. Khi Đồng Khánh lên ngôi cho tước hết chức hàm của ông, đến năm Thành Thái thứ hai (1890), nhờ Trương Quang Đản dâng sớ kêu oan, nhà vua mới cho khai phục nguyên hàm.
-Trương Quang Du, được bổ làm Hàn lâm viện Biên tu, rồi Thương viện tỉnh vụ Quảng Ngãi.
-Trương Quang Duyệt, được bổ làm Hàn lâm Cung phụng.
Trong số cháu của Trương Đăng Quế, có Trương Quang Chử (con Trương Quang Trụ), sau cũng lấy công chúa; và Trương Đăng Trình, là người thi đỗ Tiến sĩ "đầu tiên" của tỉnh Quảng Ngãi.

IV. Thơ Trương Đăng Quế:
Đầu năm 1836, Trương Đăng Quế nhận lệnh vua đi kinh lược xứ Nam Kỳ. Trước cảnh hoang tàn của thành Phiên An, cảm xúc ông làm bài thơ:

Đăng nguyên Phiên An thành hữu cảm
(Cảm xúc khi lên thành Phiên An cũ)
Dịch nghĩa:
Trải xem chiến trường mà xót xa,
Một khối thành vững chắc đã gây nên mầm họa.
Nhân dân bỗng dưng gặp phải kiếp nạn,
Tướng sĩ chinh chiến dãi dầu gió bụi.
Tường đổ vách tan phá làm bờ lũy,
Kích gãy thương hư chất lại thành đống.
Đáng giận kẻ bề tôi tầm thường [17] đã làm điều sai lầm cho nước,
Nhớ lại việc đã qua, mấy phen ngậm ngùi.
(Trương Quảng Khê thi tập)

Một người bạn thân đi vào Nam để lo việc chống ngăn quân Pháp, Trương Đăng Quế làm thơ tiễn, đồng thời gửi gắm tình ý qua bài:

Tống Gia Định Phương Bá Huỳnh Kiện Trai
(Tiễn đưa Gia Định Phương Bá Huỳnh Kiện Trai)
Dịch nghĩa:
Ông với tôi kết giao đã ba mươi năm nay, chúa cũng biết,
Một đời ông ngay thẳng nên được mọi người tôn trọng.
Nay ông đi vào Nam, tôi làm thơ giãi bày nỗi buồn mùa thu,
Đông Phố [18]đang lúc thiết tha mong đợi cảnh thịnh trị.
Nơi đó đất ruộng rất màu mỡ, việc cày bừa gieo trong thuận lợi,
Nhưng nhân dân vừa trải qua nạn binh lửa, ông nên vỗ về họ.
Chính tôi từng đặt bước tới đó [19]để liệu biện công việc,
Và thấy nơi đấy phảng phất như cảnh Đào nguyên.
(Trương Quảng Khê thi tập)

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
1.Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, tr. 430.
2.Đại kế là kỳ xét công các quan để nghị thưởng, cứ 3 năm tổ chức một kỳ.
3.Lược theo Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), tr. 446-447.
4.Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), tr. 448.
5.Lược theo Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), tr. 449-451.
6.Lược theo Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), tr. 454-456.
7.Trích trong Đại Nam chính biên liệt truyện (tr. 464) và bài Tựạ của Phan Thanh Giản đề cho Trương Quảng Khê tiên sinh tập tự.
8.Quách Thị Thu Hiền, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1860.
9.^ Nguyễn Đình Đầu, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Tập I, tr. 214). Những chữ nằm trong dấu ngoặc kép được trích trong Đại Nam thực lục, tập 17, tr. 290 (ghi chú của tác giả).
10.Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), tr. 431.
11.Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), tr. 431.
12.Lược kể theo Quốc triều sử toát yếu (tr. 266-269) và Đại Nam chính biên liệt truyện (tr. 433-434).
13.Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), tr. 435.
14.Đại Nam thực lục (Tập 6). Nhà xuất bản Giáo Dục, 2007, trang 1040-1041.
15.Theo Quách Thị Thu Hiền, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1860.
16. Đại Nam chính biên liệt truyện, tr. 459 và 464.
17. Chỉ Lê Văn Khôi.
18. Đông Phố, nghĩa hẹp chỉ tỉnh Gia Định, nghĩa rộng chỉ chung cả 6 tỉnh Nam Kỳ.
19. Ý tác giả muốn nhắc đến lần đi kinh lý xứ Nam Kỳ vào năm 1836.

Sách tham khảo:
■Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm Tổng tài), Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch). Nhà xuất bản Văn học, 2004.
■Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm Tổng tài), Quốc triều sử toát yếu (bản dịch). Nhà xuất bản Văn học, 2002.
■Nguyễn Đình Đầu, phần Địa lý lịch sử thành phố trong Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Tập I). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.
■Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (Quyển 5, Tập Thượng), Sài Gòn, 1962.
■Quách Thị Thu Hiền, mục từ "Trương Đăng Quế" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.