Hình ảnh

Hình ảnh

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010

Gia Định thành thông chí (quyển 6): chép về thành trì

Quyển VI: THÀNH TRÌ CHÍ
[chép về thành trì]
(Phụ chép: công thự, kho tàng, chùa miếu, chợ phố và cầu đường)

Truyện nói rằng:
Thành là chỗ để ngăn quân bạo ngược, giữ yên cho dân, tất phải có vách cao, hào sâu, phòng sự bất ngờ, ấy là việc lớn tốt vậy.
Gia Định là hùng trấn, là biên thùy cõi Nam, núi sông muôn dặm, thiên nhiên hiểm, địa lợi đủ, làm phên giậu cho nước nhà, vững chắc để khống chế được cả Xiêm La, Đồ Bà (Chà Và) và Ai Lao, thu phục và vỗ yên Cao Miên và man ở núi, nắm giềng mối 5 trấn, tóm giữ được cả vùng then chốt quan trọng. Vì vậy nên công thự ở trấn thành tất phải đẹp đẽ để giữ vẻ oai với người nước ngoài, kho tàng tất phải đầy đủ, để vững bền cội gốc. Cứ xem chùa miếu tôn nghiêm to lớn mà biết có thần linh hiển hách, thấy làng xóm chợ búa nơi nơi thịnh vượng đẹp đẽ mà biết dân vật giàu có sung túc, thấy cầu cống đường sá [1b] chốn chốn được chỉnh tề mà biết cương vực bền vững, đức chính và thế hiểm đều được cùng sửa sang, trong ngoài được yên ổn, há chẳng tốt đẹp ru?
TRẤN THÀNH GIA ĐỊNH ([1][1])
Trấn Gia Định xưa có nhiều ao đầm, rừng rú, buổi đầu thời Thái Tông (Nguyễn Phúc Tần, 1648 - 1687), sai tướng vào mở mang bờ cõi, chọn nơi đất bằng rộng rãi, tức chỗ chợ Điều Khiển ngày nay, xây cất đồn dinh làm chỗ cho Thống suất tham mưu trú đóng, lại đặt dinh Phiên Trấn tại lân Tân Thuận ngày nay, làm nha thự cho các quan Giám quân, Cai bạ và Ký lục ở, được trại quân bảo vệ, có rào giậu ngăn cản hạn chế vào ra, ngoài ra thì cho dân trưng chiếm, chia lập ra làng xóm, chợ phố. Nơi đây nhà ở hỗn tạp, đường sá chỗ cong chỗ thẳng, tạm tùy tiện cho dân mà chưa kịp phân chia sửa sang cho ngăn nắp. Chức Khổn súy thay đổi lắm lần cũng để y như vậy. Đến mùa xuân năm Ất Mùi (1775), đời vua Duệ Tông (Nguyễn Phúc Thuần) thứ 11, xa giá phải chạy đến trú ở thôn Tân Khai. Mùa thu năm Mậu Thân (1788) năm thứ 11, buổi đầu đời Thế Tổ (Nguyễn Phúc Ánh) Trung hưng [2a], việc binh còn bề bộn, ngài phải tạm trú nơi đồn cũ của Tây Sơn ở phía đông sông Bình Dương để cho nghỉ quân dưỡng dân. Ngày 4 tháng 2 năm Canh Tuất thứ 13 (1790), tại chỗ gò cao thôn Tân Khai thuộc đất Bình Dương, ngài mới cho đắp thành bát quái như hình hoa sen, mở ra 8 cửa, có 8 con đường ngang dọc, từ đông đến tây là 131 trượng 2 thước ta, từ nam đến bắc cũng như thế, bề cao 13 thước ta ([2][2]), chân dày 7 trượng 5 thước ta, đắp làm ba cấp, tọa ngôi Càn, trông hướng Tốn. Trong thành, phía trước bên tả dựng Thái miếu, giữa làm sở hành tại, bên tả là kho chứa, bên hữu là Cục Chế tạo, xung quanh là các dãy nhà cho quân túc vệ ở. Trước sân dựng([3][3]) cây cột cờ ba tầng, cao 12 trượng 5 thước ta, trên có làm chòi canh vọng đẩu bát giác tòa, ở bên treo cái thang dây để thường xuyên lên xuống, trên ấy có quân ngồi canh giữ, có điều gì cần cảnh báo thì ban ngày treo cờ hiệu, ban đêm treo đèn hiệu canh gác, các quân cứ trông hiệu đó để tuân theo sự điều động. Hào rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước ta, có cầu treo thả ngang qua, bên ngoài đắp lũy đất, chu vi 794 trượng, vừa hiểm trở, vừa kiên cố tráng lệ. Ngoài thành đường sá chợ phố ngang dọc được sắp xếp rất thứ tự, bên trái là đường cái quan [2b] từ cửa Chấn Hanh qua cầu Hòa Mỹ đến sông Bình Đồng tới trấn Biên Hòa; đường cái quan bên phải gặp chỗ nào cong thì giăng dây để uốn thẳng lại, đầu từ cửa Tốn Thuận qua chùa Kim Chương, từ phố Sài Gòn đến cầu Bình An qua gò chùa Tuyên đến sông Thuận An. Bến đò Thủ Đoàn đưa qua sông Hưng Hòa, trải qua gò Trấn Định rồi đến gò Triệu. Đường rộng 6 tầm, hai bên đều trồng cây mù u và cây mít là những thứ cây thích hợp với đất này. Cầu cống thuyền bến đều luôn được tăng gia việc tu bổ, đường rộng suốt phẳng như đá mài, gọi là đường thiên lý phía nam.
Năm Tân Dậu thứ 24 (1801), sau khi thu phục Kinh đô Phú Xuân, vua dụ dỡ nhà Thái Miếu trong trấn thành (Gia Định). Năm Kỷ Tỵ (1809) niên hiệu Gia Long thứ 8, thần là Tổng trấn Nguyễn Văn Nhơn, thần là Trịnh Hoài Đức vâng mạng xây cất tòa vọng cung ở trước sân trong thành, phàm những ngày Nguyên đán, Đoan ngọ và rằm, mùng một, đem thuộc quan văn võ trong thành và trấn Phiên An đến, chiếu theo nghi thức mà làm lễ. Hai bên tả hữu xây lầu chuông trống tám góc, tiếp theo là dựng Hành cung để phòng khi vua đi tuần thú. Phía sau là công thự Tổng trấn, phía phải là công thự Hiệp đốc trấn, phía trái là công thự Phó tổng trấn.
Ở 3 cửa Càn Nguyên, Ly Minh và Tốn Thuận có dựng trại quân mái lợp ngói tô đỏ rất đẹp đẽ nghiêm túc; lại còn sửa soạn vách thành và vọng lâu ở 4 cửa Càn, Ly, Chấn, Tốn; cầu treo gỗ ván ở 4 cửa này lâu ngày hư hỏng, nay cũng xây lại cầu vồng bằng đá tổ ong bắc qua hào, cầu vừa cao vừa rộng bền chắc, dưới có chừa khoảng trống cho nước chảy, trước lũy ở cửa Ly Minh có dựng đình Thân Minh để làm chỗ niêm yết trên bảng những chiếu, cáo, dụ, chỉ.
Cục Chế tạo ở trong thành sau đường Cấn Chỉ và Đoài Duyệt, có 3 dãy nhà ngói đối diện ở trước hai đường ấy. Phía trái là một dãy trại ngói làm nơi để súng, phía phải là một dãy trại ngói là nơi làm việc của thợ rèn, buổi đầu Trung hưng thợ chế tạo đủ ngành tập họp ở đây đồng thời làm chỗ chứa thổ sản hàng hóa. Đầu năm Tân Dậu (1801) lấy lại kinh đô [3b] thì việc ở thành đã giảm bớt; năm Nhâm Tuất (1802) niên hiệu Gia Long năm đầu, bãi bỏ kho hàng lụa, còn sưu thuế sản vật của dân thì đem nạp ở đây; năm Gia Long thứ 10 (1811) ([4][4]) phân bổ lại dân biệt nạp phải nộp sản vật về kho của 5 trấn, từ đó Cục Chế tạo này chỉ thâu chứa sắt mà các quan mua của lái buôn người Xiêm mang đến và chứa giữ đồ vật công cùng những đồ dùng tầm thường mà thôi.
Kho tiền bạc ở phía phải đường Càn Nguyên và Khảm Hiểm ([5][5]) trong thành, lúc đầu lập nội khố chứa đồ quý như vàng, bạc, tơ đoạn, vải lụa, sau bỏ nội khố đổi làm kho Kiên Tín, kho này ở thành gồm 5 gian nhà ngói, thâu các loại thuế và là nơi 5 trấn hội nạp tiền bạc, có đội quân Kiên Tín canh giữ ở đấy.
Kho đồn điền ở bên trái đường Càn Khảm trong thành nguyên thuộc kho chứa dựa. Năm thứ 5 niên hiệu Gia Long, xây hai dãy ngói, mỗi dãy mười gian thâu chứa lúa thóc đồn điền chứa đầy các gian, số còn lại đem chứa ở kho của năm trấn, có đội quân An Hòa canh giữ. Trại súng nằm về phía trước bên trái Cục Chế tạo trong thành, có 15 gian lợp ngói, trên làm gác ván [4a] dùng đặt đồ phụ tùng của súng, trong trại đặt các loại súng lớn bằng đồng, bằng sắt, và súng hỏa xa trụ, tất cả đều có cỗ xe vẽ màu đỏ đen, mỗi năm trang sức tốt đẹp thân súng, phải lau dầu một lần cho khỏi rỉ.
Kho thuốc súng là dãy nhà 12 gian lợp ngói xây gạch ở mặt sau nội thành, thuốc súng đựng trong thùng gỗ để trên sàn gác, cấm tuyệt lửa đuốc, người không phận sự không được ra vào nơi đây.
Xưởng thuyền chiến ở về phía đông thành độ một dặm dọc theo bờ sông Tân Bình quanh qua sông Bình Trị, gác và che thuyền hải đạo (là đồ nghề bén nhọn của thủy chiến nước Nam), chiến hạm, (cách thức như tàu buôn nhưng nhỏ, tục gọi là thuyền), ghe sơn đen, ghe sơn đỏ (thuyền đều gọi là ghe. Ghe chiến cụ, thân lớn và dài, dày và bền, đặt nhiều mái chèo, ngoài sơn dầu đen gọi là ghe đen, sơn đỏ gọi là ghe đỏ) và ghe lê (tức là ghe thuyền được chạm trổ vẽ vời từ đầu đến đuôi)đều là dụng cụ thủy chiến ([6][6]). Xưởng dài đến 3 dặm.
Xưởng voi ở phía ngoài lũy đất cửa Khảm Hiểm, đó là chỗ thường trú, có khi chọn để trong thành, có khi phát tán theo nguồn cỏ nước ở Biên Hòa, tùy lúc không nhất định. Cứ đầu xuân có lệ kỳ nhương, bịnh hoạn [4b] thì quan cấp cho thuốc uống, có bãi nhất định để tắm rửa, uống nước, có chỗ nhất định để chăm nuôi, không cho lén cưỡi đến chỗ đông người ở phố chợ, đồng thời nghiêm cấm vào trong vườn người ta hái những chuối, tre, dưa quả khác.
Nơi chế thuốc súng ở ngoài cửa Khôn Trinh cách chừng 2 dặm, rộng 1 dặm, bốn phía trồng cây có gai, trong đủ dụng cụ chày cối; khi chế tạo thì hết sức cẩn thận đèn lửa, ngăn không cho người ngoài được ra vào lộn xộn.
Khám đường và nhà giam ở ngoài chân lũy đất cửa Khôn Trinh, tháng 4 mùa hạ năm Giáp Tuất, Gia Long thứ 13 (1814), vâng lịnh cất ở mặt trước một tòa ngói làm khám đường, mặt sau cất 3 tòa làm nhà giam, chia ra giam những nam nữ tội đồ nặng nhẹ, trồng cây rào có gai bao quanh bốn phía, đào hào, trồng cây tật lê, phòng thủ nghiêm mật.
Sứ quán ở phía phải trước cửa Ly Minh cách thành chừng 1 dặm, trước sau có hai tòa nhà ngói, mỗi tòa 5 gian, [5a] có đội lính lệ gồm 20 người; phía trước bên phải làm phụ thêm nhà Hải quan để trưng thu thuế khóa thuyền buôn các nước tới.
Học đường, năm Gia Long thứ 4 (1805), vua sai đặt một viên chính Đốc học và 2 viên nhất nhì phó Đốc học. Khi đầu dựng học đường ở phía phải lũy đất ngoài thành, năm thứ 12 (1813) cho làm lên trên nền cũ đồn dinh ở chợ Điều Khiển.
Kho của bốn trấn ở tại nền cũ kho Gian thảo (Cầu Kho), cách phía nam thành 4 dặm rưỡi. Năm Mậu Thân (1788) đầu Trung hưng, mở rộng ra làm kho chung cho cả 4 trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh và Định Tường, để thu chứa thuế khóa, chi cấp lương bổng, còn trấn Hà Tiên trải qua loạn lạc hư hao, đang lo chiêu tập, còn được miễn thuế, còn 2 đạo Long Xuyên và Kiên Giang thì phụ nạp thuế vào kho của trấn Vĩnh Thanh. Mùa xuân năm Ất Sửu, Gia Long thứ 4 (1805), làm 6 dãy kho ngói [5b], ở giữa dựng đền Tư Thương để làm lễ cáo tạ việc trưng thâu, ở mặt trước có 4 cửa, hai bên phải trái và mặt sau đều có một cửa, ngoài trồng rào tre, trước mặt giáp sông xây bờ cừ bằng đá ong, hai bên phải trái và phía sau có sông nhỏ bao quanh dùng làm hào ao. Năm Gia Long thứ 10 (1811), định rằng sản vật biệt nạp và thuế khóa của dân thuộc thành nay ở trấn nào thì nộp ở trấn đó, cứ đến mùa xuân hàng năm, chiếu theo số thuyền Tào chính được lịnh kết tập để chở đi, quan viên văn võ bốn trấn thay nhau mỗi phiên hai viên chuyên chở về kinh, ngoài ra thì lấy những thuộc lại của các phòng bạ ngồi coi việc thâu nạp, còn thuyền bè và biền binh đi theo bảo vệ thì đến phiên của trấn nào thì biền binh trấn ấy bổ sung đi theo.
Trường Diễn võ ở cách phía tây nam thành 10 dặm, nơi đây đất bằng phẳng rộng rãi độ 50 dặm, thường tháng giêng chọn ngày tốt làm lễ tế mã ([7][7]), tế cờ kỳ đạo ([8][8]) và thao diễn trận pháp đều cử hành tại đây.
[6a] Đồn Giác Ngư (Cá Trê) ([9][9]) ở bờ bắc sông Tân Bình thuộc địa giới trấn Biên Hòa, cách thành 7 dặm. Đồn này được khởi công vào ngày 2 tháng 4 năm Kỷ Dậu (1789) buổi đầu Trung hưng, chung quanh trồng cây mù u, đối diện bờ bên kia có đồn Thảo Câu để làm thế nương dựa nhau.
Đồn Thảo Câu ở bờ nam sông Tân Bình, cách thành 6 dặm, thuộc địa giới trấn Phiên An, năm tháng khởi công và thể thức cũng giống như đồn Giác Ngư.
Lũy Bán Bích do đốc chiến Nguyễn Đàm xây đắp, hình giống mặt trăng xếp, chỉ nửa vách lũy thôi. Đồn ở địa giới hai huyện Bình Dương và Tân Long, nay nền cũ vẫn còn (xem rõ hơn ở phần Cương vực chí).
Lũy Hoa Phong ở huyện Bình Dương, cách về phía tây của trấn 62 dặm rưỡi. Năm Canh Thìn đời Hiển Tông thứ 10 (1700) ([10][10]), (Lê Hy Tông, niên hiệu Chính Hòa thứ 21, Đại Thanh Khang Hy năm thứ 39), Thống suất Chưởng cơ Nguyễn Lễ bình định Cao Miên rồi đắp nên, nay nền cũ vẫn còn.
Đồn Tân Châu. Tân Châu là địa đầu trọng yếu kiêm quản cả 3 đạo Tân Châu, Chiến Sai và Hùng (Hồng) Ngự. Đạo chính thức ngày trước thuộc về thành lớn Gia Định [6b] đặt ở giữa sông Doanh Châu, phía đông là đạo Chiến Sai thuộc trấn Vĩnh Thanh, phía tây là đạo Hùng (Hồng) Ngự thuộc trấn Định Tường, hình thế như răng chó kềm nhau, để giữ lấy chỗ hiểm yếu. Năm Gia Long thứ 17 (1818), phụng chỉ dời đạo Tân Châu đến cù lao Long Sơn, dời đạo Chiến Sai đến cửa trên sông Hiệp Ân, dời đạo Hùng (Hồng) Ngự đến cửa dưới sông Hiệp Ân, tháng 12 Khâm mạng Tả quân phó tướng, Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Xuân đắp đồn vuông Tân Châu, mỗi mặt dài 15 trượng, cao 6 thước 5 tấc ta, chân dày 15 thước ta, đầu thu hẹp 4 thước, có hai cấp; chỗ ngay giữa của 4 mặt đồn đều đắp nhọn ra thành hình bát giác, phía trái và phải gần trước góc nhọn ấy đều có cửa làm chỗ cho biền binh phòng trú. Quy cách đồn Chiến Sai cũng phỏng theo đồn nầy, chỉ đồn Hùng (Hồng) Ngự hơi kém hơn,chỉ để làm nơi tuần tra, chưa xây thành đồn lũy.

[7a] TRẤN PHIÊN AN
Lỵ sở trấn Phiên An ban đầu dựng ở xóm Tân Thuận, tổng Bình Trị, sau vẫn chỗ ấy, đến niên hiệu Gia Long thứ 6 (1807), dời qua dựng ở địa phận thôn Hòa Mỹ, nằm phụ vào phía đông bắc quách ngoài thành Gia Định, mặt trông ra hướng tây nam, lưng dựa vào sông Bình Trị, 3 tòa nhà ngói, ở giữa là công thự Trấn thủ, phía tả là công thự Cai bạ, phía hữu là công thự Ký lục, là công thự của trấn cũng gọi là công dinh, ngang dọc đều 80 tầm, bề ngang chia làm ba phần, chỉ có dinh giữa ([11][11]) rộng hơn 5 tầm. Năm thứ 18 (1819), cách sau trấn thự 6 tầm, phía ngoài đại lộ, lại dựng 5 dãy kho bằng ngói cho 4 trấn, mỗi dãy 31 gian cao rộng đẹp đẽ, đủ dùng để cất giữ, có dựng trại Thừa ty, nằm dọc theo trước sân 3 dinh, khám đường và nhà giam dựng ở phía bắc đường cái quan.
Nha môn huyện Bình Dương giản lược, thuở trước do còn thái hòa, phong tục thuần hậu, chính sự giản lược, toàn hạt Phiên An không đặt huyện trị, chỉ ở địa phương thôn Tân Long thuộc huyện Tân Long có đặt [7b] hai viện Đông - Tây Phủ thừa để kiêm việc trông coi. Đến mùa xuân tháng 3 niên hiệu Gia Long 12 (1813) mới chia đặt huyện nha ở thôn Tân Thới Nhì thuộc đạo Quang Oai, nằm cách phía tây trấn 52 dặm rưỡi, khi ấy phủ nha đều giảm gọn và mọi việc đều do quan trấn trông coi luôn. Ở trước huyện nha dựng vọng cung để làm lễ tết, Đoan dương và rằm mồng một, kế làm một sảnh sự đường và Đông đường, Tây đường mỗi phía một tòa, đặt hai viên Tri huyện, một viên Đề lại, hai viên Thông lại, sáu viên Chánh sai, 50 lính lệ.
Nha môn huyện Tân Long xung yếu, việc công lại bề bộn; nên đặt nha môn ở địa phận thôn Phước Tú, cách trấn 67 dặm về phía nam, quy chế xây dựng cũng giống như huyện Bình Dương.
Nha môn huyện Phước Lộc, do việc công phiền phức khó nhọc, nên đặt nha môn ở địa phận thôn Thới Bình, cách trấn 56 dặm ([12][12]) về phía đông nam, quy cách xây dựng cũng như mấy huyện trước.
Nha môn huyện Thuận An xung yếu, việc công bề bộn, nên đặt nha môn ở địa phận thôn Bình Khuê, cách trấn 92 dặm về phía nam, quy chế xây dựng cũng như mấy huyện trước.
[8a] MIẾU HỘI ĐỒNG
Cách trấn 5 dặm rưỡi về phía nam, ở phía tây của đường cái quan, khi mới mở mang có dựng miếu để thờ linh thần trong cảnh hạt, cột mái cao rộng, án thờ đẹp rực rỡ, nay cũng như vậy. Xuân thu 2 lần tế, lệ có 50 lễ sinh, 25 miếu phu, trước miếu có cây si ([13][13]) sum suê, lớn cỡ hai ôm, hành khách qua lại thường ngồi nghỉ dưới bóng mát đó.
ĐỀN HIỂN TRUNG
Cách trấn 5 dặm về phía nam, ở phía tây đường cái quan. Năm Ất Mão (1795) dựng đền để thờ các vị công thần có công khai sáng trung hưng, năm Giáp Tý niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804), phụng chỉ trùng tu, đem thần vị Chưởng hậu quân Bình Tây Tham thặng (thừa) Đại tướng quân truy tặng Thái úy Tánh Quốc công Võ Tánh và Khâm sai Lễ bộ truy tặng Thái tử Thái sư Châu Quận công Ngô Tòng Châu ([14][14]) thờ vào gian chính giữa, còn lại thì theo thứ tự thờ ở 2 bên tả hữu, có chép vào Hội điển của bộ Lễ, mỗi năm 2 lần tế xuân thu, lệ có đặt lệ phu 25 người.
Xét ngài Võ Tánh, người huyện Phước An, trấn Biên Hòa, là người sáng suốt thông đạt, võ nghệ giỏi giang, lúc đầu dấy nghĩa binh [8b] ở huyện Kiến Hòa trấn Định Tường, đánh nhau với Tây Sơn hàng trăm trận, làm nổi tiếng buổi đầu thời Trung hưng. Năm Mậu Thân (1788), lúc đầu được phong chức Tiên phong dinh Chưởng cơ, kế đó kết hôn với trưởng Công chúa ([15][15]), có công lớn trong việc đánh dẹp, nên được gia chức Bình tây Chưởng hậu quân Tham thặng Đại tướng quân, tước Quận công.
Ngô công người huyện Bình Dương, trấn Phiên An, là người liêm khiết trang nghiêm, uyên thâm về lý học. Lúc đầu Trung hưng được cử vào chức Hàn lâm, rồi đến Ký lục trấn Biên Hòa, khá có tiếng tăm, tiếp đó thăng Đường quan ở bộ Lễ. Tháng 4 năm Kỷ Mùi (1799), quan Tư võ Tây Sơn là Trần Tuấn và Binh bộ Nguyễn Phác đem thành Quy Nhơn đầu hàng, vua sai hai ông dùng binh lưu trấn ở lại đấy, còn đại giá trở về Gia Định. Tháng 12, ngụy Thiếu phó Tây Sơn là Nguyễn Diệu([16][16]) cử binh toàn quốc từ Thuận Hóa đến đánh, Võ công đóng chặt cửa thành chống giữ. Tháng 4 năm Canh Thân (1800), quân vua ra cứu viện, quân địch còn kiên trì nên không đánh phá vòng vây ngay được. Mùa hạ năm Tân Dậu (1801), vua để Chưởng tiền quân Nguyễn Văn Thành, Chưởng hữu quân Nguyễn Hoàng Đức, Chưởng tượng quân Nguyễn Đức Xuyên [9a] ở lại tiếp viện ngoài thành; còn vua điều động thủy quân thừa lúc Phú Xuân không đề phòng kéo thẳng ra đánh lấy; vua lại sai Chưởng tả quân Lê Văn Duyệt, Trung dinh Đô thống chế Tống Công Phước, Ngự lâm đồn Đô thống chế Lê Văn Chất ([17][17]) từ tỉnh Quảng Nam đi theo đường thủy và đường bộ đến đồn trú tại Quảng Ngãi để đánh sau lưng quân Tây Sơn.
Tháng 5, trong thành Quy Nhơn lương thực đã hết mà quân địch tăng gấp mười vây đánh càng gắt. Ngày 27, Võ Công lên lầu bát giác tự thiêu, còn Ngô Công thì uống thuốc độc tự tử, thành bị mất. Tháng 3 năm Nhâm Tuất (1802), quan binh trong ngoài giáp công, ngụy Diệu bỏ chạy, thành Quy Nhơn mới yên. Vua đặc tặng: Võ Công làm Dực vận công thần Phụ quốc Đại tướng quân, Thái úy Tánh Quốc công, thụy là Trung Liệt. Ngô Công được tặng là Tán trị công thần đặc tiến Trụ quốc Kim tử Vinh lộc Đại phu, Thái tử Thái sư Châu Quận công, thụy là Trung Ý. Triều đình nghị tôn hai ông lên bực Trung hưng công thần hạng nhất, ở miếu công thần thì chỗ thờ hai ông ở vị chính giữa, xuân thu hàng năm đều tế.
[9b] MIẾU THÀNH HOÀNG
Ở bờ nam sông Tân Bình, cách trấn về phía đông nam 6 dặm rưỡi, nguyên trước là sân cúng khao tế các vị âm thần. Năm Đinh Mão niên hiệu Gia Long thứ 6 (1807), phụng chỉ dựng nhà ngói làm miếu Thành hoàng trong trấn, xuân thu hai kỳ lễ tế, quan trấn phải thân hành đến tế.
MIẾU HẢI THẦN Ở CẦN GIỜ
Ở phía đông nam thủ sở, kính thờ thần Nam Hải ([18][18]), các vị thần Hà Bá, Thủy Quan, Ngọc Lân ([19][19]), của hai sông Phước Bình cũng được phối thờ vào đấy. Cột kèo miếu này được chạm trổ tô vẽ nghiêm chỉnh, thường năm vào tháng giêng quan trấn dùng lễ Thái lao (gồm dê, heo, trâu) thân hành đến tế, cầu tất cả cho thuận gió để thuyền vận tải về kinh đi về cho được tiện lợi, tất cả có chép vào Tự điển. Còn những thuyền buôn ra vào cũng sắm lễ vật trọng hậu đến chiêm bái, hương đèn thường ngày thơm tho, sáng rực.
MIẾU HỎA TINH
Ở phía trái của chợ Điều Khiển, thờ nữ thần Hỏa Tinh (bà Hỏa). Vì nước Nam thuộc quẻ Ly, mà Ly là thuộc hỏa, [10a] quẻ Ly ở giữa trống không là âm, đã âm mà ở giữa là nữ nên thần thuộc về nữ giới. Miếu nầy thờ tự rất trang nghiêm và hằng linh ứng, người ở đây cứ đến đầu xuân, trước hết phải đem lễ đến tế, để mong tránh điều chẳng lành, thì cả năm được yên, nếu chậm trễ hay xem thường, thì liền thấy có hỏa tai. Ngày trước ở cửa miếu có đắp hình 2 người nô bộc hình trạng rất cổ quái, đứng mập mờ dưới tàng cây đa trong ánh trăng khuya, khiến người đi qua chợt trông thấy đều rùng mình.
ĐỀN PHI VẬN TƯỚNG QUÂN
Ở địa phận thôn Tân Long, huyện Tân Long, trước đây đền dựng ở phía nam phủ nha, thờ ngài Tòng Giang Văn Trung, rất linh ứng. Thường năm vào 2 mùa xuân thu, quan Tri phủ đến tế. Tế thì dùng lễ Trung lao (gồm heo, dê) đến ngày tế bày biện ve chén mâm cỗ đúng nghi thức, con heo tế thì để sống, bởi vì vị thần này nguyên bị chết dưới lưỡi dao, cho nên heo phải để sống, không nỡ giết, có ý sợ tổn thương lòng thần. Lúc gần sáng, khi làm lễ cho người chạy quanh đàn tế cõng heo, cố ý làm cho heo kêu la như có ý báo cho thần biết con heo còn sống y nguyên. Từ khi loạn lạc, không có phủ nha nên bỏ lễ tế, [10b] nhưng miếu mạo vẫn còn đó, người làng đến dâng nhang đèn không dứt. Nay theo trong Tự điển, thì miếu Hội đồng phải thờ ông đứng đầu.
Xét trong sách Ô Châu cận lục do Dương Văn (An) ([20][20]) soạn có chép rằng: Ông họ Nguyễn tên Phục người xã Tùng Giang, huyện Gia Phúc, đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa, khoa Quý Dậu (1453), ông đậu đệ tam giáp tiến sĩ, làm quan đến Chuyển vận sứ, Hành khiển sứ đạo Thanh Hoa. Thuở vua Thánh Tông chưa làm vua thì ông dạy cho vua học, nên khi vua tức vị, ông được cất nhắc lên chức Hàn lâm Tham chưởng viện sự, 3 lần đi sứ triều Minh, về làm Đại lý tự khanh, lại kiêm chức Tri ([21][21]) Binh chính viện tham nghị rồi làm Thân quân ty Cẩm y vệ Chỉ huy sứ ty Thiêm sự. Khi vua đi đánh Chiêm Thành, ông phụng mệnh làm Phi vận tướng quân Chuyển thâu đội Tán lý, khi đến cửa biển Tư Dung bị sóng to gió lớn trở ngại không đi được, chúng quân đều sợ tội xin đi, ông nói: Thà để một mình ta cam chịu 3 thước gươm, chớ ta không nỡ đem kho gạo lúa hữu hạn và nhân mạng vô tội vất bỏ một cách khinh dễ vào trong chỗ gió cuồng sóng lớn để chôn đầy bụng cá [11a]. Vì vậy mà phải đậu thuyền hoãn đợi. Vua rất giận vì trễ nải, sai bắt trói, lại có cận thần gièm pha, nên vua mới sai xử tử ông. Chúng quân đều thương cảm mới lập đền thờ tại nơi ấy, đền nổi tiếng là linh thiêng, cầu việc gì đều được ứng nghiệm. Niên hiệu Cảnh Thống (1498 - 1504) đời Lê Hiến Tông truy tặng ông làm Thần Văn trung chính nghị, các triều sau cũng gia tặng mỹ hiệu và có chép vào Tự điển.
CHÙA KIM CHƯƠNG
Cách trấn về phía tây nam hơn 4 dặm, ở phía bắc của đường cái quan. Ở giữa là điện thờ Phật, trước sau có đông tây đường, sơn môn, phương trượng, nhà chứa kinh, hương viện và nhà ăn, chạm trổ sơn son thếp vàng, trang nghiêm đẹp đẽ, phía bắc chùa có dòng suối nước ngọt ngầm, bốn mùa chảy rịn thấm ướt cả đường đi. Năm Ất Hợi (1755), đời Thế Tông năm thứ 18 (Nguyễn Phúc Khoát) có nhà sư Đạt Bản từ Quy Nhơn vân du, dừng gậy trụ lại chùa này, được vua ban tấm biển đề là Sắc tứ Kim Chương tự. Khi Đạt Bản viên tịch, truyền giáo pháp lại cho đồ đệ là Quang Triệt. Năm Ất Mùi (1775), Lý tướng quân đạo Hòa Nghĩa tôn lập [11b] Mục vương (Nguyễn Phúc Dương)([22][22]) tại chùa nầy (xem mục Sơn xuyên chí). Chùa lại được ban sắc một lần nữa. Quang Triệt mất, Quang Trạm kế tục. Quang Trạm mất, Quang Tuệ kế tục theo. Năm Quý Dậu niên hiệu Gia Long 12 (1813), Thần Võ quân Phó tướng Trần Nhân Phụng vâng di chỉ Cao hoàng hậu ban tiền 10.000 quan để trùng tu chùa và sửa sang kinh tạng trống chuông cho thêm phần trang nghiêm. Hiện nay đây là ngôi chùa có tiếng của đất Gia Định.
CHÙA GIÁC LÂM
Ở trên gò Cẩm Sơn, cách lũy Bán Bích về phía tây 3 dặm, gò chùa nầy như đống vàng bỗng nổi lên giữa chỗ đồng bằng trải thẳng cả trăm dặm, giống như tựa bình phong, đội nón, mở trướng, trải thảm, rộng 3 dặm, cây to thành rừng, hoa núi dệt gấm, sớm chiều mây khói bốc lên quấn cuộn, tuy nhỏ nhưng lý thú. Mùa xuân năm Giáp Tý (1744) đời Thế Tông năm thứ 7, người xã Minh Hương là Lý Thụy Long quyên của xây dựng chùa trang nghiêm, cửa thiền u tịch, đến ngày Thanh minh, Trùng cửu nhàn hạ, thi nhân du khách kết đoàn 5, 3 người đến đây mở tiệc thưởng hoa, nâng chén quỳnh mà ngâm vịnh, ngó xuống chợ búa đời thường [12a], bụi bặm xa cách ra ngoài tầm mắt, thật là một nơi đáng du lịch và thưởng ngoạn. Gần đây có Viên Quang đại lão hòa thượng đời thứ 36 thuộc phái Lâm Tế chính tông ([23][23]), mật hạnh kiên trì, trải từ tuổi nhỏ cho đến khi già, kiên trì tu hành ngày càng tinh tấn, lại có tính yêu cảnh sương khói suối khe, ít khi để chân đến chốn thị thành huyên náo. Từ khi ông đến đây dừng trụ trong núi dứt phiền não, dưới rừng lộ chùa chiền ([24][24]). Năm Gia Long thứ 16 (1817) ([25][25]) ông mở đại giới đàn, từ đó thiện nam tín nữ đến quy y rất đông, mà sơn môn lại thêm phần khởi sắc.
CHỢ KHUNG DUNG (CHỢ CÂY ĐA)
Ở về phía nam trấn, dưới chân lũy của thành lớn về phía hữu có cây đa cổ thụ cành rễ chằng chịt, bóng che chừng nửa mẫu, người buôn bán nhóm chợ dưới bóng cây. Đầu canh tư, người ruộng rẫy đốt đuốc gánh những dưa bí rau quả đến nhóm tại đầu chợ phía tây, có người mua mão (4)về để bán lại; đến sáng đầu chợ phía đông đằng nam đằng bắc của đường lớn [12b] mới bày bán đủ thịt cá hàng hóa cho đến hoàng hôn mới tan.
CHỢ BẾN THÀNH
Phố, chợ, nhà cửa rất trù mật, họp chợ dọc ven sông. Ở đầu bến, theo lệ tháng đầu xuân gặp nhằm ngày tế mã, có thao diễn thủy binh. Bến này có đò ngang đón chở khách buôn tàu biển lên bờ. Đầu phía bắc là ngòi Sa Ngư, có bắc cầu ván ngang qua, hai bên nách cầu có phố bằng ngói, tụ tập hàng trăm thức hàng hóa, dọc bến sông thuyền buôn lớn nhỏ đậu nối liền nhau.
CHỢ PHỐ LỊCH TÂN ([26][26]) (BẾN SẠN - BẾN SỎI)
Ở bờ tây sông Bình Dương, phố ngói liền nhau, bến ấy toàn là sạn cát, là bến thường xuyên cho voi ngựa tắm. Đầu phía bắc bến ấy, năm Kỷ Dậu (1789), có bắc cái cầu lớn ngang qua sông thông với đường đến đồn Thảo Câu để khi hữu sự dễ bề ứng tiếp, kế đó sau khi nhung công đại định, vì nước xoi nên cầu bị hỏng, nay không sửa lại; đầu bến phía tây có sở đúc tiền. Năm Bính Thìn (1796), phụng sắc của Thế Tổ Cao hoàng đế đúc tiền Gia Hưng Thông bửu, [13a] xây sở đúc ở đây nên mới có tên gọi thế.
CHỢ ĐIỀU KHIỂN
Cách trấn về phía nam 2 dặm rưỡi, khi xưa chợ họp trước Nha Điều khiển, nên mới có tên đó, đại loại như chợ Cai Bạ, cầu Khâm Sai, chợ Cai Đội ([27][27])... ấy là do người đương thời không dám gọi thẳng tên người tôn trưởng, bèn gọi theo chức quan, nên sau nầy danh tánh mới thất truyền, ấy là tục bắt chước sai lầm. Nay nha trị đã dời đi, nhưng tên chợ còn như cũ, chợ này quán xá trù mật.
CẦU CAO MIÊN
Cách trấn về phía tây bắc 1 dặm rưỡi. Trước đây vua Cao Miên là Keo Hoa Yêm vì già yếu, ủy thác việc nước cho con là Nặc Tha giữ quyền nhiếp chính lỵ sở tại thành La Vách. Ngày 18 tháng 4 mùa hạ năm Tân Hợi (1731) [đời Túc Tông năm thứ 7, Lê phế đế (Duy Phương) - Vĩnh Khánh năm thứ ba, Đại Thanh Ung Chính năm thứ 9], người Lào Sá (Xá) Tốt ([28][28]) khởi loạn tại Cầu Nôm, cùng người Cao Miên ở rừng hoang kéo xuống Gia Định cướp giết dân Việt. Lúc ấy trong nước đang yên ổn nên không phòng bị, khi giặc đến bất thần, quan dân đều hoảng sợ. Quan Điều khiển vội chỉ huy Cai cơ là Đạt Thành hầu đem binh chống giữ ở Bến Lức, vì thế cô không có binh viện, nên bị giặc giết. Thống binh Định Sách hầu [13b] Trần Đại Định bèn đem thuộc tướng Long môn chận đánh ở Vườn Trầu, phá được tiền binh của địch, chận được nhuệ khí hung hãn của chúng; Đại Định cho đắp lũy đất một mặt ở Hoa Phong để chống cự; Thống suất Vĩnh Trường hầu Trương Phúc Vĩnh lại điều động Giám quân Cai đội Triêm Ân hầu Nguyễn Phúc Triêm đến ứng cứu quân ở Bến Lức, giết được giặc Lào và đẩy chúng lui về Vũng Gù. Phúc Vĩnh chia quân đi 3 đường, tự mình cầm thủy quân theo đường Tiền Giang, Phúc Triêm theo đường giữa Bát Chiên, Đại Định theo đường bộ Quang Hóa nhất tề tiến công khiến binh Lào thua chạy trốn vào rừng sâu. Cha con Yêm, Tha sợ lây họa cũng chạy trốn vào phủ Sơn Bô. Đại Định chiếm cứ Cầu Nôm. Nặc Tha gởi thư kể rõ việc người Lào đứng đầu gây ra việc loạn là ở biên giới, khẩn xin đại binh tạm dừng, để y tự dẹp xong và bắt bọn cừ khôi đem đến trước quân trình nạp chịu tội. Đại Định đem việc ấy chuyển báo, nhưng Phúc Vĩnh không nghe theo, muốn truy nã đến cùng. Nặc Tha nghe vậy cả sợ, bèn chạy trốn xa [14a].
Đến tháng 7 gặp kỳ mưa lụt, Phúc Vĩnh vì thế mới chấp thuận, và truyền cho quân 3 đạo trở về Gia Định, còn Nặc Tha trở về La Vách ([29][29]). Khi ấy người Lào như bèo vừa tan tụ tập lại ở Cầu Nôm, rồi đi cướp giết như cũ. Nặc Tha sức yếu không địch nổi, bèn kêu gọi binh các phủ để cùng tấn công. Tháng giêng năm Nhâm Tý (1732), Phúc Vĩnh tiếp được tin ngoài biên báo về, lại đốc binh tiến công, người Lào lại chạy trốn nơi xa, Nặc Tha cũng trốn lên Sơn Bô, đút lót xin hoãn binh, để từ từ tính chuyện giết giặc. Tháng 3, Phúc Vĩnh bèn lưu Đại Định ở lại ứng phó, còn tự mình kéo đại binh về đồn dinh nghỉ ngơi.
Lúc ấy Phúc Vĩnh đã nhiều năm dùng binh mà chưa bắt được tội nhân nên bị triều đình nghiêm trách, ông ta sợ tội bèn đặt điều rằng, việc ấy là do Đại Định năm trước chần chừ trong việc hành quân rồi tư thông việc kết nạp với vua Cao Miên, nay lại lợi dụng việc làm loạn của người Lào để nắm binh quyền lâu, việc tiễu trừ thành bất lực, rồi bí mật tâu lên vua. Trong lúc đó Đại Định đóng binh ở Lò Vẹt, vừa lo tấn công, vừa phủ dụ, Nặc Tha thì dùng mưu kế lừa người Lào mà giết sạch, rồi tự trói mình đến trước quân xin chịu tội [14b].
Đại Định để Nặc Tha ở Lò Vẹt chiêu dụ dân lưu tán, còn ông kéo binh về báo tiệp. Khi Đại Định về đến Gia Định, Phúc Vĩnh nghĩ cần ra tay chế ngự Đại Định trước, nên mới định ngày họp các tướng để vấn nghị việc đó. Đại Định biết mưu ấy, tự nghĩ rằng: Trước đây do Đại soái (chỉ Phúc Vĩnh) điều độ không đúng, đến nỗi Đạt Thành hầu bị quân giặc giết, tiếp đến lại ăn của hối lộ rồi rút quân, tiến thoái bừa bãi, thế mà nay lại đổ tội cho ta, nếu để cho hắn bắt giữ hạch hỏi, thì hắn lấy quyền thế áp đảo thành ra bản án, thì mối oan ở dưới cái chậu úp ([30][30]), lấy ai bộc bạch cho. Chi bằng ta về Kinh để tâu xin cứu xét, có chết cũng cam tâm.
Ông nghĩ thế, bèn nhân đang đêm cùng thuộc hạ cưỡi một chiếc thuyền chiến về kinh. Khi thuyền đến gần núi Bút La có người em chú bác của Đại Định là Thành can rằng: Phúc Vĩnh là người thế thần của nước Nam, trong triều có nhiều người thân thích, nay anh muốn tỏ rõ được sự uẩn khúc thì ai là người biện bạch, chi bằng chạy thẳng về Việt Đông tìm nơi an thân cho khỏi bị người ta giết mổ, băm vằm.
Đại Định nói: Cha ta là Thượng Xuyên công ([31][31]) nhờ [15a] ân dày của triều đình, đã từng được dụ rằng: họ Nguyễn làm vương, họ Trần làm tướng, đời đời không dứt tước công hầu, điều ấy thật quá vinh hạnh. Nay nhất thời viên biên soái (chỉ Phúc Vĩnh) có lòng che lấp riêng tư, nếu mình không về triều đình bày tỏ, tất là có tội phản nghịch, thì sự nghiệp của tổ tông khác gì núi đổ thành hang hốc, chẳng những làm tôi bất trung mà làm con cũng bất hiếu, còn mặt mũi nào đứng giữa trời đất nữa. Nói đoạn bèn quát bắt thuyền phải vô cửa Hàn, Thành cương quyết không nghe, dành lấy tay lái với đà công rồi cho thuyền nhắm thẳng biển Đông mà chạy. Đại Định thấy gió Nam thổi mạnh, sợ khi thuyền đến Quỳnh Hải ([32][32]) thì khó trở buồm quay lại, trong lòng tức bực, gấp gáp bèn rút gươm ra chém Thành, rồi quát người lái thuyền phải quay vào cửa Hàn để thả neo, rồi đem hết chuyện trình lên quan dinh Quảng Nam nhờ đề đạt.
Từ đêm Đại Định trốn đi, thì viên Điều khiển cho là ông đã trốn về Quảng Đông, nên lệnh bắt cả nhà Đại Định, và đem việc ấy tâu lên để thỉnh chỉ, thì ngay hôm ấy tờ tấu của dinh Quảng Nam giúp cho Đại Định cũng đến cùng lúc. Bá quan nghị rằng Trần Đại Định [15b] đã thông với Cao Miên, lại cố ý không tuân tướng lệnh, xin dùng chính pháp để răn những kẻ ngoan cố.
Nhưng thánh đức có lượng khoan hồng, vua nghĩ rằng: Nếu Trần Đại Định có lòng phản quốc, thì lúc hắn như con cá lớn ngoài biển, ai chế ngự được mức liều, nay hắn đến kinh yêu cầu thẩm cứu, qua đó tình lý cũng thấy rõ được. Vua bèn hạ dụ câu lưu Trần Đại Định ở Quảng Nam và sai quan vào Gia Định phúc thẩm, đợi bản án kết thúc xong sẽ định đoạt.
Đại Định ở trong lao suốt ngày không xiết phẫn uất, thổ huyết mấy cân rồi thọ bệnh liên miên, đến 12 đêm sau thì mất ([33][33]).
Kịp khi tờ phúc thẩm tâu lên, có Nguyễn Phúc Triêm làm chứng nói Đại Định không có tình trạng chần chừ khi dừng binh để tư thông cùng Cao Miên. Vì vậy Đại Định được ban ân truy tặng là Đô đốc đồng tri, thụy là Tương Mẫn. Nhân giặc Lào sợ Triêm như sợ cọp, nên Phúc Triêm được thăng chức Cai cơ. Còn Trương Phúc Vĩnh mắc tội để mất cơ nghi, tâu bày không thật, nên bị bãi quyền Thống suất, giáng xuống làm Cai đội, rồi điều Cai cơ Nguyễn Hữu Doãn đến thay việc Điều khiển.
Năm Bính Thìn thứ 13 (1736), [16a] Giao (Keo) Hoa Yêm vương mất, triều đình ta sắc phong cho con hắn là Nặc Tha nối ngôi. Năm ấy Nặc Thâm từ Xiêm La về nước, nhưng không được Nặc Tha dung nạp, nên phải tạm trú ở phủ Lò Khù. Con Thâm là Yếm Chăn và con người em của Thâm là Sô theo Nặc Tha ở thành La Vách thường thường báo tin qua lại. Nặc Tha sinh nghi, bèn tự qua Nam Vang, ngầm phục binh, rình xem bọn Sô động tĩnh thế nào để thừa thế giết đi. Bọn Sô rất sợ, bèn tụ họp đồng đảng vây cánh ở các phủ Lò Vẹt, Cầu Nôm làm phản. Nặc Tha liền chạy sang Gia Định, quan Khổn súy lấy vùng đất trống ở thượng du Nghi Giang về phía bắc đồn dinh cho Nặc Tha ở. Tha vương do chỗ ở này cách sông nên làm cầu ván để thông đường qua lại, người đương thời gọi là cầu Cao Miên.
Bọn tên Sô đã chiếm được toàn cõi Cao Miên, bèn rước Nặc Thâm về lập lên làm vua. Tháng 4 năm Đinh Tỵ (1737), Nặc Thâm sai sứ đến kinh dâng lễ cống. Tháng 11 năm Đinh Mão (1747) đời Thế Tông Nguyễn Phúc Khoát (Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8, Đại Thanh Càn Long năm thứ 12), ở phủ Ba Thắc (Châu Đốc - Hậu Giang) có người Cao Miên tên Sô Liên Tốc đến cướp bóc ở Mỹ Tho và Cà (Kỳ) Hôn. Lúc này Nặc Thâm đã chết, [16b] bè đảng của Thâm lập người con thứ 5 của Thâm là Đuông lên làm vua, nhưng người con thứ 4 của Thâm là Hen tranh quyền rồi cử quân đánh nhau. Vì vậy nên nhà sư Chiêm Hậu cùng bọn Chiêu trùy Yết lại lập con trưởng của Thâm là Yếm, từ đó anh em sát hại nhau, làm cho dân Cao Miên ([34][34]) rất khổ sở. Sô Liên Tốc lợi dụng thời cơ càng hoành hành bướng nghịch. Tháng giêng năm Mậu Thìn (1748), quan Điều khiển Nguyễn Hữu Doãn cho quân ra đốt hết thuyền bè của Sô Liên Tốc ở sông Mỹ Tho, rồi đuổi đến Thiết Lũy, thẳng tiến đến Nam Vang, đánh phá luôn Chiêu trùy Yết, vua ngụy tự lập Yếm chạy qua Xiêm La, còn Hen và Đuông chạy trốn chưa rõ ở đâu. Quân ta thâu nạp Nặc Tha đưa về Cao Miên ở tại dinh La Vách, rồi quan quân mới khải hoàn. Tháng 6, quan Cao la hâm Ốc Đột Lục Mân đem quân Xiêm về đánh Cao Miên, Nặc Tha phải chạy sang Gia Định tạm trú ở chợ Tân Kiểng, rồi bị bệnh mà chết. Con thứ hai của Thâm là Nguyên từ nước Xiêm trở về nối ngôi vua, lo việc triều cống, giữ lễ phiên thần, từ ấy Cao Miên mới hơi yên ổn.
[17a] CHỢ NGUYỄN THỰC
Cách trấn về phía tây 10 dặm. Năm Đinh Mùi (1727) đời Túc Tông (Nguyễn Phúc Chú) (niên hiệu Bảo Thái Lê Dụ Tông nhà Lê thứ 8, Đại Thanh Ung Chính thứ 5), Nguyễn Văn Thực người Quảng Ngãi khai phá rừng hoang lập chợ ở đây, tạo thành một chỗ tụ tập đông đúc ở nơi gò núi.
CHỢ TÂN KIỂNG (TỤC GỌI CHỢ QUÁN)
Cách trấn về phía nam hơn 6 dặm, phố chợ rất đông đúc, thường năm đến ngày Nguyên đán có tổ chức chơi đu tiên vân xa, đáng gọi là một chợ lớn. Từ trước, đến cuối năm thường có chém tù ở đây. Cách sông ở bờ phía đông, ngày trước có người Cao Miên là Nặc Đích theo Nặc Tha đến, cắm dùi sống luôn ở đấy, y bèn làm cầu ngang qua sông để thông đến chợ, gọi là cầu Nặc Đích, sau trải qua loạn lạc nên hư hỏng. Đầu phía tây đường lớn có đồn bắt trộm cướp đóng giữ.
Ngày 25 tháng giêng năm Canh Dần (1770) đời Duệ Tông (Định vương Nguyễn Phúc Thuần), (Lê Hiển Tông Cảnh Hưng năm thứ 31, Đại Thanh Càn Long năm thứ 35), sau khi bình định, có con hổ dữ vào nhà dân ở phía nam chợ, nó gầm rống rất dữ, dân quanh vùng đều hoảng sợ, họ báo với đồn dinh để phái quân vây bắt. Sau phải triệt hạ phòng ốc, làm nhiều lớp hàng rào bao quanh, nhưng con hổ rất dữ, [17b] không ai dám đối đầu. Qua ngày thứ 3, có thầy tu đi vân du là Hồng Ân cùng đồ đệ là Trí Năng xin vào đánh cọp. Hồng Ân cùng hổ quần thảo một hồi, hổ bị côn đánh rát quá, nhảy núp vào lùm tre, Hồng Ân đuổi nà theo, hổ bị dồn ngặt nên cự trở lại với Hồng Ân. Hồng Ân lui chân té xuống mương nhỏ, bị hổ tát thọ thương. Trí Năng tiếp viện đánh trúng đầu, hổ chết dưới làn côn, nhưng Hồng Ân bị thương nặng nên cũng mất liền khi ấy. Người ở chợ cảm nghĩa đem xác Hồng Ân chôn tại chỗ đấy rồi xây tháp, nay vẫn còn.
Tháng 3 mùa xuân năm Đinh Dậu (1777), giặc Tây Sơn tiến quân vào cướp, Gia Định thất thủ, Tham tán Nguyễn Tịnh ẩn tại chỗ nầy rồi bị địch bắt giết đi.
Trước đây, tình hình ở Bắc Hà là vua yếu mà bề tôi lại mạnh, vua Lê Cảnh Hưng chỉ là hư vị, Trịnh Sâm chuyên quyền tự xưng là Tĩnh vương ([35][35]). Nghe tin Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc gây nhiễu loạn ở miền Nam, trước tai họa ấy chúa Trịnh mừng thầm, rồi tháng 5 năm Giáp Ngọ (1774), Trịnh Sâm sai vây cánh đã trí sĩ là Quốc lão Hoàng Ngũ Phúc làm chức Bình Nam Thượng tướng quân. Diệp Quận công ([36][36]) [18a] đem binh các đạo Sơn Nam, Hải Dương, An Quảng, Thanh Hoa (Hóa) và Nghệ An xâm phạm miền Nam, khi quân ấy đi đến Bố Chính ngoại châu, tháng 9 mới có tin báo. Lúc này miền Nam thái bình đã lâu, không sửa sang việc binh bị. Các tướng ra quân đều bại trận. Sau cùng Tôn Thất Chất làm Tiết chế bộ binh, Nguyễn Tịnh làm Tham tán quân vụ ([37][37])đem quân ra đánh cũng bị thua chạy. Quân Bắc Hà đến chiếm kinh thành Phú Xuân, Tịnh phải ẩn tránh ở Qui Nhơn, Nguyễn Huệ cho người dò tìm được, có ý yêu cầu ra giúp cho Huệ. Tịnh nghĩ nay phải lập công thờ giặc để mưu cho sự sống còn thì không phải là điều người vong quốc nên làm, bèn xin dắt mẹ đi tìm vua cho trọn tiết tháo của một bề tôi. Huệ muốn giết chết ([38][38]), nhưng sợ mang tiếng giết bừa kẻ sĩ nên dằn lòng buông tha cho. Tịnh lặn lội vào Gia Định yết kiến Duệ Tông Định vương Nguyễn Phúc Thuần, được tham gia vào việc bàn mưu tính kế. Năm Đinh Dậu (1777), Gia Định thất thủ, Tịnh theo hộ giá không kịp, phải dắt mẹ lánh ở nhà người dân làng ở Tân Kiểng([39][39]) rồi bị quân ngụy Tây Sơn bắt được. Huệ hỏi: Ngày trước ngươi rời ta để đi tìm vua, người ý muốn xoay chuyển đất trời theo sự chỉ bảo sai khiến của ngươi, nay thế lực khốn cùng, ấy là mạng trời đã định. Là người tuấn kiệt mà chẳng thức thời thì sao khỏi hối hận về sau, [18b] vậy thì nay ở đi ý ngươi thế nào?. Tịnh đáp: Vua bị nhục, bề tôi phải chịu chết, ấy là phận sự, còn nói gì nữa. Huệ nói: Hãy giúp y thành toàn khí tiết. Rồi sai đem ra chém.
PHỐ CHỢ SÀI GÒN
Cách trấn về phía nam 12 dặm ở hai bên tả hữu đường cái quan, là đường phố lớn, thẳng suốt 3 đường, giáp đến bến sông, một đường ngang ở giữa, một đường đi dọc theo sông. Các đường ấy đan xuyên nhau như chữ điền, phố xá liền mái nhau, người Việt và người Tàu ở chung lộn dài độ 3 dặm. Hàng hóa trong phố bày bán có: gấm, đoạn, đồ sứ, giấy má, châu báu trang sức, hàng sách vở, tiệm thuốc, tiệm trà, tiệm hủ tíu. Hai đầu nam bắc bến sông không gì là không có. Đầu phía bắc đường lớn của bổn phố có miếu Quan Đế và 3 hội quán: Phúc Châu, Quảng Đông, và Triều Châu chia đứng hai bên tả hữu; phía tây ở giữa đường lớn có miếu Thiên Hậu, gần phía tây có hội quán Ôn Lăng, đầu phía nam đường phố lớn về phía tây có hội quán Chương Châu. Gặp ngày tốt, đêm trăng, như Tam nguyên, rằm, mùng một thì treo đèn đặt án [19a], tranh đua kỳ xảo trông như là cây lửa, cầu sao, thành gấm, hội quỳnh, kèn trống huyên náo, nam nữ dập dìu, thật là một phố lớn nơi đô hội náo nhiệt. Trong đường phố lớn có cái giếng xưa, nước ngọt tràn trề, bốn mùa không cạn. Sông nhỏ chảy ngang phố có bắc cầu ván lớn, trên có hai dãy hành lang mái ngói, treo màn che nắng, đường đi râm mát như đi dưới mái nhà cao. Giữa phố về phía đông đường lớn có chợ Bình An bán đủ sản vật quý ở núi biển và thổ sản các nơi, ban đêm còn thắp đèn mua bán.
TẤT KIỀU (CẦU SƠN)
Ở phía bắc trấn 7 dặm, vì sông nơi đây có nhiều cây tất (cây sơn) nên có tên ấy. Khi Đô úy của quân ngụy Tây Sơn Nguyễn Nhạc là Nguyễn Trấn đóng giữ Gia Định, lo sợ những trung thần nghĩa sĩ của ta ẩn náu tông tích rình xem sơ hở để hành động, thật không thiếu chi người, e sợ giữa đất bằng ở liền nhau không có thành trì bảo vệ, thì khó phòng bị khi có biến bất chợt, nên định lấy chỗ Tất Kiều, trên có gò cao nổi lên, giữa có khoảng đồng bằng trải rộng, dưới giáp ruộng cạn, rạch nhỏ ăn thông, hình thế rộng rãi, [19b] chu vi ước hơn trăm dặm, 4 mặt có sông ngòi ngăn cản, có thể đóng binh ở đấy. Năm Bính Ngọ (1786), khởi công dựng dinh trại trên đầu gò cao, chỗ đất bằng thì lập chợ phố, lùa cả dân buôn Sài Gòn đến đó ở. Chỗ này nguyên đất thấp bẩn ngập mặn, nhân dân đến đây đều cho là bất tiện, nhưng do uy lực bắt buộc, nên miễn cưỡng làm theo, cho nên đã mấy năm mà không thành tựu được. Tháng 6 năm ấy, nhân Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh chiếm Bắc Hà, khi về lại càng kiêu ngạo. Tháng giêng năm Đinh Mùi (1787), nhân ngày tế cờ khai binh đầu năm, Nguyễn Huệ đem hết quân mình vây đánh anh là Nguyễn Nhạc ở thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc đóng cửa thành cố thủ rồi cấp báo cho Nguyễn Trấn. Trấn để Tham đốc Trần Tú ở giữ Gia Định, tháng 4, tự đem thủy quân về cứu viện thành Quy Nhơn, nhưng mới đến Tiên Chử địa đầu Phú Yên liền bị quân Nguyễn Huệ đón đánh bắt được. Nguyễn Trấn bị bại nên phố Tất Kiều phải bị bỏ, duy có Trần Tú nhọc nhằn chống chọi. Võ Quốc công (Võ Tánh) ở Định Tường, Nguyễn Văn Tuyết ở Biên Hòa, [20a] Nguyễn Văn Nghĩa ở Hiệp Lâm, các nơi đều dấy nghĩa binh, trong lúc đó thế của quân Tây Sơn càng ngày càng yếu, chỉ có Hãn vân Lê Công Trấn và Lương y Phạm Điền họp quân định ngày đánh úp đồn Bến Nghé, nhưng cơ sự bị tiết lộ, nên bị Trần Tú bắt giết, tuy mưu trung bất thành, nhưng vì nghĩa mà chết, thật đáng thương tiếc thay!
ĐƯỜNG THIÊN LÝ (đi ra Bắc)
Khi mới khai thác thì bắt đầu từ phía bắc Tất Kiều đến Bình Giang, ruộng ao sình lầy, đường bộ chưa đắp, hành khách muốn qua Biên Hòa hoặc lên Thủy Vọt đều phải đi đò dọc. Đến đời Thế Tông năm thứ 11 Mậu Thìn (1748), nhân có việc Cao Miên cảnh báo, quan Điều khiển Nguyễn Hữu Doãn mới đo đạc giăng dây làm đường thẳng, gặp chỗ có kinh ngòi thì bắc cầu, chỗ bùn lầy thì đắp đất và cây gỗ. Từ cửa Cấn Chỉ của thành đến bến đò Bình Đồng dài 17 dặm, bờ phía bắc là địa giới Biên Hòa có đặt trạm Bình Đồng, đi về phía bắc qua núi Châu Thới đến bến đò Bình Tiên rồi qua bến Sa Giang (Rạch Cát) do đường sứ Đồng Tràm xuống Đồng Môn thông [20b] đến Mô Xoài, ấy gọi là đường thiên lý. Trên đường nầy chỗ nào gặp sông lớn theo lệ có đặt đò qua, người chèo đò được miễn sưu dịch khác.
ĐƯỜNG THIÊN LÝ (đi về Tây)
Tháng 10 mùa đông năm Ất Hợi (1815) niên hiệu Gia Long 14, quan Tổng trấn thành Gia Định vâng mạng đo đạc từ cửa Đoài Duyệt phía tây thành từ cầu Tham Lương (Gò Vấp), qua bến đò Thị Sưu, qua đầm Lão Đống giáp ngã ba đường sứ tới Khê Lăng đến đất Kha Pha ([40][40]) Cao Miên, cho đến sông lớn, dài 439 dặm, gặp chỗ có sông, khe thì bắc cầu cống, chỗ đầm lầy thì đắp đất, rừng thì đốn cây, mở làm đường thiên lý, bề ngang 6 tầm, làm thành con đường rộng thông suốt cho người ngựa qua lại được bình yên. Nhưng đất ấy hẻo lánh không có người ở, khi hữu sự sứ giả đi báo tin và hành khách đi lại dừng nghỉ phải theo phép bưu chánh mới được ổn thỏa. Lại từ Kha Pha dọc sông xuống phía nam 194 dặm đến đồn Lò Yêm; còn từ Kha Pha lên phía bắc 49 dặm đến sách trại Chế Lăng cũng là đường trọng yếu khi dùng binh.
[21a] TRẤN BIÊN HÒA
Lỵ sở trấn Biên Hòa khi xưa đặt ở địa phận thôn Phước Lư, huyện Phước Chánh, đất thấp nên hay có lụt. Năm Gia Long 15 (1816) dời lỵ sở qua gò cao thôn Tân Lân, quy hoạch ra làm thành sở, ngang dọc đều 200 tầm, trong chia thành hình chữ tỉnh, giữa dựng Vọng cung, hai bên phải trái có lầu chuông trống, chỗ chính giữa phía sau dựng 3 công dinh, rộng 80 tầm, mà chia ra làm 3 phần, chỉ dinh giữa rộng thêm 5 tầm, dài 60 tầm, 2 con đường phải trái đều 7 tầm, chung quanh xây tường gạch, làm dãy kho chứa gồm 31 gian lợp ngói xây gạch dày chắc, hai bên phải trái làm trại quân thừa ty, chia ra từng khu vực rất chỉnh tề.
LŨY TÂN HOA
Ở thôn Tân Hoa, tổng Chánh Mỹ. Năm Tân Mão (1771), trấn Hà Tiên thất thủ, quan Đốc chiến Nguyễn Đàm đắp lũy để phòng ngự đường tiến của sơn man Thủy Vọt, nền cũ nay vẫn còn.
[21b] LŨY TRÚC GIANG
Ở thượng lưu sông Trúc Giang thuộc tổng Chánh Mỹ, từ khi vùng này mới được mở mang, lũy này đã được đắp lên để chế ngự sơn man, dấu cũ nay vẫn còn.
LŨY TRE ĐÔNG GIANG
Ở phía nam sông Phước Giang thuộc tổng Chánh Mỹ, cách trấn về phía tây nam 50 dặm rưỡi, ngược lên cuối phía nam sông Đông Giang 4 dặm rưỡi, nguyên trước trồng tre gai làm hàng rào để ngăn sơn man, dần dần thành ra rừng tre rậm rạp ken nhau dài đến 10 dặm, đến nay vẫn còn xanh tốt.
LŨY PHƯỚC TỨ
Ở phía đông trạm Hương Phước, ngay giữa đường cái quan. Trước đây Chánh vương Cao Miên là Sô đóng ở thành Vũng Long ([41][41]), Phó vương là Non đóng ở thành Sài Gòn. Con trưởng của Sô là Bô Tâm không được làm vua, bèn giết cha tự lập làm vua, rồi sợ Non không phục sẽ cáo báo lên triều để xin binh hỏi tội mình nên đắp đồn đất Gò Vách, Nam Vang, kết bè nổi, giăng dây sắt để tự vệ, lại xin Xiêm La ứng viện, mưu đánh giết Non. Thế Non lúc bấy giờ rất nguy phải chạy qua [22a] nương tựa dinh Thái Khang ([42][42]), Bô Tâm bèn chiếm cứ Sài Gòn, mà quân Xiêm lại không đến như đã hứa, nên Bô Tâm đắp lũy đất ở vùng địa đầu Mô Xoài. Phía ngoài trồng tre gai, tăng thêm quân và voi để phòng thủ, thế rất vững. Trải hơn một năm thấy quân ta không hề động tĩnh quân lính, Bô Tâm trễ nải việc phòng bị, quân lính tứ tán ra ngoài đồng xa làm ruộng. Tháng giêng năm Giáp Dần (1674) đời Thái Tông thứ 27 (chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần), Trấn thủ dinh Thái Khang là Nguyễn Triều Đắc đem việc trình lên, tháng 2 vua sai tướng của dinh Thái Khang là Nguyễn Dương xuất chinh, cử thêm Nguyễn Diên làm Cai cơ thống lãnh tiên phong và dụ rằng: dùng binh quý là thần tốc, phải mau chóng đi suốt ngày đêm. Tháng 3, Diên Lộc hầu đến trước ở lũy Mô Xoài, nhân khi chúng không phòng bị xông vào đánh úp, chiếm lấy, binh sĩ giáo không hề vấy máu; qua ba ngày bọn chúng tụ họp lại vây đánh rất gắt, Diên Lộc hầu đóng cửa lũy không đánh trả, rồi đại quân của Dương Lâm hầu đến mới hiệp lực ra đánh, quân Cao Miên thua to, chết và bị thương rất đông. Nhân vậy mới gọi là lũy Phước Tứ ([43][43]). Sau đại quân tiến đến Sài Gòn, qua tháng 4 [22b] hai đạo binh thủy lục liên tiếp phá hai đồn Gò Vách và Nam Vang, đốt phá cả bè nổi và dây sắt của quân địch, nghe uy danh của Diên Lộc hầu, quân Cao Miên đều run sợ, Bô Tâm trốn vào rừng sâu, bị đồ đảng bên vợ là bọn Chà Và giết chết, con thứ 2 của Sô là Thu ra đầu hàng, từ ấy Cao Miên mới yên.
Sau đó Diên Lộc hầu vì leo rừng lội suối, trải đủ gian nan hiểm trở, nên bị trọng bệnh rồi mất. Khi ấy báo tiệp và đem hết mọi việc tâu lên, vua sắc phong cho Thu làm Chánh vương, Non làm Phó vương như cũ, tặng cho Diên Lộc hầu chức Chưởng cơ, thụy là Trung Võ, ra lệnh lập đền thờ, cầu khẩn việc gì đều được linh ứng, người Cao Miên qua lại chỗ này đều lo bước vội không dám ngó thẳng vào.
Lũy ấy trải mấy đời đều thế và dùng làm đồn trọng yếu cho đạo Mô Xoài. Nay loạn lạc đã yên, bốn bề không còn thành lũy, tuy thành vách đã hóa ra ruộng vườn, mà bờ tre xưa vẫn xanh tốt, còn nhìn ra được dấu tích của lũy xưa.
[23a] NĂM ĐỒN ĐỒNG MÔN
Cách trấn về phía đông 63 dặm, năm Mậu Ngọ (1798), đầu thời Trung hưng, vâng mệnh đắp ở phía bắc đường lớn 4 đồn, phía nam một đồn, có hình như răng chó cài chế lẫn nhau, để ngăn phòng quân Tây Sơn vào Nam quấy nhiễu, chung quanh đều trồng tre rậm rịt xanh tốt. Năm Gia Long thứ 10 (1811), tre ở các lũy Đồng Môn, Trao Trảo và Ký Giang đều ra trái rồi chết, nay đã mọc lại. Xét sáchHoa kính chép: cây tre trong 60 năm có một lần thay rễ ra trái rồi khô chết, trái ấy rụng xuống đất rồi mọc trở lại, trong 6 năm mới thành ruồng tre, nay tính năm tuy không đúng lắm nhưng cái lý ấy cũng thấy có hiệu nghiệm.
LŨY TRAO TRẢO
Cách trấn về phía đông 80 dặm rưỡi. Năm Canh Tuất (1790), đầu thời Trung hưng, sửa sang việc nội trị, xây đắp thành lũy, đóng thuyền bè, phàm những chỗ trọng yếu trên đường bộ trước hết phải giữ thế hiểm, nên đắp lũy đất này dài độ 3 dặm, nằm ngang trên đường cái, nay vẫn còn.
LŨY SÔNG KÝ
Cách trấn về phía đông 90 dặm rưỡi. Tháng giêng mùa xuân năm Đinh Dậu (1777) đời Duệ Tông( Định vương Nguyễn Phúc Thuần) thứ 13, quân trinh thám báo tin quân Tây Sơn sắp kéo vào. [23b] Khi ấy Quận công Tôn Thất Xuân tới đóng đồn ở Mô Xoài, Chưởng cơ cai trưởng đà Nguyễn Đại Lữ đóng đồn ở núi Nữ Tăng (Thị Vải), Tiết chế Nguyễn Phúc Tuấn đóng đồn ở Ký Giang, Chưởng cơ Nguyễn Phúc Hựu đóng đồn ở Đồng Môn tạo thế dựa nhau. Tháng 3, Mục vương ([44][44]) cử Lý tướng quân đạo Hòa Nghĩa ở giữ đồn Phiên Trấn, còn Vương thì qua dinh Trấn Biên để điều độ việc quân. Ngày 16, bộ binh Nguyễn Huệ từ miền thượng đạo đến bao vây, phá vỡ 2 đồn Ký Giang và Nữ Tăng (Thị Vải), Phúc Tuấn và Đại Lữ đều chết, các đồn đều tan rã thua chạy, Tây Sơn thừa thắng theo đường Bến Than kéo xuống Phiên Trấn, rồi Gia Định cũng không giữ được. Năm Nhâm Tý (1792) thời Trung hưng, đắp sửa lũy ở bờ phía tây, ngang giữa đường lớn, dọc theo bờ sông ra phía bắc, dài 12 dặm rưỡi. Sông ấy chảy ra phía bắc đến suối Đại Tuyền rồi chảy quanh về nam rồi hợp lưu với sông Đảo Thủy ([45][45]), lấy sông dài làm hào để giữ lấy nơi hiểm yếu.
HUYỆN PHƯỚC CHÁNH
Công việc đơn giản, lỵ sở ở thôn Tân Hòa, chợ Sứ Lộ ([46][46]), tổng Chánh Mỹ, quy mô cũng như các huyện ở Phiên An.
HUYỆN BÌNH AN
Công việc đơn giản, lỵ sở ở ấp Phước Lợi, tổng Bình Chánh, quy mô như huyện trước.
[24a] HUYỆN LONG THÀNH
Công việc đơn giản, lỵ sở ở ấp Phước Lộc, tổng Thành Tuy, quy mô như các huyện trước.
HUYỆN PHƯỚC AN
Công việc xung yếu bề bộn hơn, lỵ sở ở thôn Long Điền, tổng Phú An, quy mô như các huyện trước.
DỤC TƯỢNG TRÌ (AO TẮM VOI)
Tục gọi là Bàu Thành, ở phía bắc lũy Phước Tứ, tổng Phước Hưng, huyện Phước An. Khi xưa là chỗ đồn binh của người Cao Miên Bô Tâm tắm voi, chung quanh đắp đê bằng đất, nay dấu cũ vẫn còn.
XƯỞNG THUYỀN
Khi trước ở chỗ bờ nam sông Phước Giang, trên khoảng đất rộng nhìn ra sông, có quan Kiên thủy đóng ở đó để phòng thủ, sau vì loạn lạc xưởng bỏ không, nay sửa đổi dựng xưởng mới ở thôn Phước Lư, là chỗ đất trấn thự cũ.
VĂN MIẾU
Ở địa phận hai thôn Bình Thành và Tân Lại huyện Phước Chánh, cách trấn về phía tây 2 dặm rưỡi. Đời vua Hiển Tông năm Ất Mùi thứ 25 (1715), (Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thạnh năm thứ 11, Đại Thanh Khang Hy năm thứ 54), Trấn thủ dinh Trấn Biên là Nguyễn Phàn Long, Ký lục Phạm Khánh Đức chọn chỗ đất dựng lên ban đầu, phía nam nhìn ra sông Phước Giang, phía bắc [24b] dựa núi Long Sơn, núi sông đẹp đẽ, cỏ cây tươi tốt. Năm Giáp Dần thời Trung hưng (1794), Lễ bộ Nguyễn Hồng Đô vâng mạng làm Giám đốc trùng tu, giữa làm điện Đại Thành và cửa Đại Thành, phía đông làm miếu Thần ([47][47]), phía tây làm đền Dục Thánh, trước xây tường ngang, phía tả có cửa Kim Thanh, phía hữu có cửa Ngọc Chấn, chính giữa sân trước dựng gác Khuê Văn treo trống chuông trên đó, phía tả có nhà Sùng Văn, phía hữu có nhà Dị Lễ ([48][48]), mặt ngoài chung quanh xây thành vuông, mặt tiền làm cửa Văn Miếu, phía tả phía hữu có hai cửa Nghi Môn, rường cột chạm trổ thể chế rất tinh xảo, đồ thờ có những thần bài, khám vàng, bình vàng, chén lôi, mâm phủ quỹ đựng xôi, tộ đựng heo cúng, khay đựng dưa xổi, đều chỉnh tề và sạch đẹp ([49][49]). Trong vòng thành trăm hoa tươi đẹp nào là: thông, tùng, quít, bưởi, hoa sứ, mít, xoài, chuối, hồng xiêm, cành nhánh liền nhau rợp bóng, thân tàng to lớn sum suê. Thường năm chọn ngày Đinh hai mùa xuân và thu, vâng mạng vua, quan Tổng trấn chia phiên hành lễ, phân hiến hai bên thì dùng Trấn quan và Đốc học, ngoài ra đều là bồi tế, lệ đặt 50 lễ sinh và 50 miếu phu, tất cả đều lo làm phận sự.
[25a] MIẾU HỘI ĐỒNG
Nguyên trước miếu ở góc tây bắc của thành, mùa hạ năm Gia Long thứ 18 (1819) mới dời qua phía tây nam trước thành, nhà miếu đẹp đẽ, đồ thờ tự rất tề chỉnh tinh khiết, thường năm có lệ tế xuân thu và có chép vào Tự điển.
ĐỀN LỄ CÔNG
Ở phía nam cù lao Đại Phố, phụng thờ quan Khâm sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Phúc Lễ ([50][50]), miếu vũ trang nghiêm, mặt trông ra Phước Giang, lấy tảng đá lớn làm thủy thành, dưới đấy có con cá chép to, đớp gió đùa sóng, bơi lượn khi ẩn khi hiện, lúc gió mưa nước vỗ vào tảng đá nghe ầm ầm, sóng cuộn ào ạt, càng thêm vẻ oai linh làm cho người nghe phải kính sợ. Từ loạn Tây Sơn, hương tàn khói lạnh, có người thuộc giới sĩ lâm trong trấn tên là Tấn qua đấy nhân cảm xúc mà đề bài thơ như sau:
PHIÊN ÂM:
Bạch thảo thê thê cổ tái trần,
Hoang thành duy ([51][51]) kiến dã hoa tân.
Thiên tương sự nghiệp quy tiền đại,
Địa dĩ sơn hà chúc hậu nhân.
Phong vũ vị khôi chinh chiến cốt,
Tử tôn trường thác loạn ly thân.
Bình sinh nhất trích tầm thường lệ,
Bất khốc trung thần khốc loạn thần ([52][52]).
DỊCH NGHĨA:
Cỏ bạc màu ủ ê giữa đám bụi nơi biên tái cũ,
Nơi thành hoang chỉ thấy hoa dại nở.
Trời đem sự nghiệp giao cho đời trước,
Đất lấy núi sông phó thác cho người đời sau.
Gió mưa chưa làm cho xương người chinh chiến thành tro,
Con cháu chịu gởi thân mãi cảnh ly loạn.
Giọt lệ tầm thường của đời người,
Không khóc vì bậc trung thần mà khóc vì kẻ trị yên nước.
TẠM DỊCH VẦN:
Ải cũ bụi bay cỏ bạc màu,
Thành hoang hoa tạp trổ xen nhau.
Trời đem sự nghiệp trao đời trước,
Đất lấy san hà gởi lớp sau.
Mưa gió chưa tàn xương chiến sĩ,
Cháu con lại vướng nạn binh đao.
Bình sinh giọt lệ tầm thường ấy,
Chẳng khóc trung cang, khóc công thần.
[25b] MIẾU QUAN ĐẾ
Nằm về phía nam cù lao Đại Phố, phía đông ngã ba đường, mặt trông ra Phước Giang, điện vũ nguy nga, tượng đắp cao hơn một trượng, phía sau là điện quán ([53][53]) Quan Âm, phía ngoài có tường gạch bao quanh, bốn góc có 4 con lân bằng đá ngồi xổm. Cùng với hội quán Phúc Châu đầu phía tây đường lớn và hội quán Quảng Đông ở dưới phía đông là 3 cái đền lớn. Từ loạn Tây Sơn nhân dân ly tán, 2 đền kia bị hoang phế, duy miếu nầy là của chung phố nên riêng được giữ gìn tồn tại. Nhưng đến mùa thu năm Kỷ Mùi (1799) Thế Tổ thứ 22 ([54][54]), ở Trấn Biên có lụt lớn, tượng bị nước ngâm rã mà rường cột và mái ngói trải lâu năm nên cũng đã hư mục. Năm Đinh Sửu (1817) niên hiệu Gia Long thứ 16, người làng họp bàn trùng tu nhưng không đủ sức, nhờ tôi thần đây([55][55]) đứng ra làm chủ việc ấy, vì cho thần là người sở tại của bản quán này. Ban đầu tôi thần cũng vì người mà miễn cưỡng nhận lời cho họ vui lòng, mà lòng thì vẫn chưa quả quyết. Đến khi dỡ miếu, trên cây đòn dông chính có đóng phụ vào một tấm ván, tuy mối mọt đã ăn mòn nhưng chữ khắc vẫn còn rõ, chỉ vì muội khói hương đèn lâu ngày làm tối mờ [26a]. Bảo nhẹ tay chùi rửa rồi xem kỹ, thì thấy nước sơn vẫn dày dặn bền bỉ, nét chữ rõ ràng, mặt trước kê tên 8 người chủ hội, trong ấy có tên họ ông nội của tôi thần, kỳ dư còn tên nhiều người nữa, đều không biết đó là ai, mặt sau khắc: ngày tốt tháng 4 năm Giáp Tý, niên hiệu Chính Hòa thứ 5 (1684). Cây đòn dông bên trái có một tấm ván khắc tên 11 người chủ hội, trong ấy có tên họ cha tôi thần, mặt sau khắc: ngày tốt tháng 2 năm Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 4 (1743) nên tôi thần bàng hoàng hồi lâu, trong lúc đó có đông người dành xem, rốt lại tấm ván ấy liền tự rã ra, tôi thần đem tới trước miếu khấn vái rồi đốt đi. Tôi thần chạnh nghĩ rằng: thần linh với nhà tôi thần đã 3 đời có túc duyên, tôi thần này đâu dám không hoàn thành ước nguyện tha thiết của đời trước? Nên tôi thần cố kêu gọi mọi người cùng làm, sửa mới đắp lại pho tượng, sửa sang đồ thờ phụng, nay cũng đã tạm đầy đủ. Vậy xin ghi vào đây.
ĐỀN LONG VƯƠNG
Ở bờ nam sông Phước Giang cách thành về phía đông 15 dặm. Đời vua Hiển Tông (1691 - 1725), Chánh thống suất Nguyễn Vân đi đánh Cao Miên [26b], khi quân đến đây thấy có vực sâu hiểm, dưới lòng sông có đá ngầm, nước xoáy mạnh, sóng dữ, bỗng gió to, mưa lớn, rất nguy cấp, chiến thuyền hầu như khó an toàn. Bỗng thấy thấp thoáng có ngôi đền tranh nhỏ vắng vẻ trong lùm cây bên bờ sông, hỏi ra mới biết đó là đền thờ thần Long vương, Vân Thống suất bèn cầu đảo thầm, trong chốc lát trời lại tạnh sáng, thuyền đi qua đều yên ổn, lần đi nầy chỉ một trận là thành, nên ngày khải hoàn ngài cho tu bổ lớn lao để đền ơn, nay đền vẫn còn nguy nga, trông rất oai nghiêm.
ĐỀN DIÊN CÔNG
Ở tổng Phước Hưng, huyện Phước An, thờ Khai Biên (Trấn Biên) công thần Chưởng cơ Diên Lộc hầu Nguyễn công ([56][56]), có chép vào Tự điển.
ĐỀN GIÁP CÔNG
Ở trên đất Xích Ram, tổng Phước Hưng, huyện Phước An, thờ vị an biên công thần Ký lục kiêm Cai cơ Giáp Lãnh hầu của triều trước, tên có chép vào Tự điển nhưng sự tích và họ chưa được rõ.
ĐỀN NAM HẢI TƯỚNG QUÂN
Thần là loại cá voi nhân từ, không có vảy, đầu tròn trơn láng, đỉnh trán có lỗ phun nước ra như mưa, [27a] môi voi, đuôi tôm, dài đến 2, 3 trượng, ưa nhào lộn trên mặt biển, khi người dân thả lưới đánh cá, thường gọi thần mà cầu đảo, thì thần giúp đuổi bầy cá chạy cả vào lưới, mọi người rất biết ơn đức, có khi thần đi lầm vào lưới thì người đánh cá mở một mặt lưới mà kêu gọi dẫn ra, thần liền theo cửa lưới ấy mà ra biển cả! Những khi thuyền bè gặp sóng gió nguy hiểm, thường thấy thần dìu đỡ mạn thuyền bảo vệ người yên ổn. Hoặc thuyền bị chìm đắm, trong cơn sóng gió thần cũng đưa người vào bờ, sự cứu giúp ấy rất rõ. Chỉ nước Nam ta từ Linh Giang đến Hà Tiên mới có việc ấy và rất linh nghiệm, còn các biển khác thì không có. Có lẽ vì núi biển phương Nam thiêng liêng nhiều âm đức để cứu giúp sinh dân chăng? Thần từng được phong tặng Nam hải tướng quân Ngọc Lân tôn thần, chép vào Tự điển. Cá này nếu bị các loài cá dữ đánh bị thương rồi chết nổi trên bãi bể, thì dân miền biển gom góp tiền mua vải, quan quách để liệm, rồi lựa một người lớn tuổi trong làng chài (trùm làng chài) đứng làm hiếu chủ mặc tang phục lo chôn cất và dựng đền [27b] ngay bên mộ. Những chỗ có mộ cá ấy thì dân nơi đó được nhiều lợi, còn chỗ tuy không có mộ cũng lập đền thờ, dọc miền biển đều như thế.
ĐỀN NGŨ CÔNG
Ở đầu nguồn Thủy Vọt, đền thờ: Tà Mã Quốc công, Tà môn Quận công, Tà Nông Quận công, Tà Vẹt Quận công, Tà Khuông Quận công ([57][57]). Đền có tiếng là linh dị, những người đi qua đây đều phải sắm lễ vật cúng bái, ắt được yên lành. Những thần ấy là do lấy tên 5 cái thác hiểm theo tiếng Man để gọi, còn tôn hiệu phong tặng thì chẳng biết có từ thời nào. Nay cứ để như thế rồi sẽ khảo cứu sau.
CHÙA SẮC TỨ
Ở bờ nam Phước Giang, cách trấn về phía đông 8 dặm, do Chánh thống suất Nguyễn Vân kiến lập. Năm Giáp Dần đời Túc Tông Hiếu Ninh hoàng đế thứ 10 (Ninh vương Nguyễn Phúc Chú) (1734) (Lê Thuần Tông niên hiệu Long Đức thứ 3, Đại Thanh Ung Chính thứ 12), ngự ban biển ngạch chữ vàng, đề chữ: Sắc tứ Hộ Quốc tự ([58][58]), bên trái khắc: Long Đức tam niên. Tuế thứ Giáp Dần trọng thu. Bên phải khắc: Vân Tuyền Đạo nhân viết. [28a] Nét chữ mạnh mẽ; cảnh chùa trang nghiêm, cửa thiền thanh tịnh, thật là nơi lạc thổ của Nam tông (do Lục tổ Huệ Năng sáng lập). Sau bị Tây Sơn phá hủy tượng Phật, cột mái đều hư hỏng, nay làm nhỏ lại và lợp tranh, vẫn còn di tích.
PHỐ LỚN NÔNG NẠI
Ở đầu phía tây của cù lao Đại Phố, lúc mới mở mang, Trần Thượng Xuyên chiêu tập người thương buôn nước Trung Quốc đến lập ra phố xá, mái ngói tường vôi, lầu quán cao ngất, dòng sông rực rỡ, ánh nhật huy hoàng, liền nhau tới 5 dặm, chia làm 3 đường phố, đường phố lớn lát đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lót đá xanh, toàn thể đường bằng phẳng như đá mài, kẻ buôn tụ tập, thuyền đi biển, đi sông đều đến cuốn buồm neo đậu, đầu đuôi thuyền đậu kế tiếp nhau, thật là một chỗ đô hội. Các nhà phú thương buôn to bán lớn chỉ ở đây là nhiều hơn, có người mà cả nước đều biết tiếng, như ông ngoại kẻ tôi thần là Lâm Tổ Quan, tên tự của ông tiếng Hoa ( Phước Kiến) đọc là Nại cho nên tục gọi là ông Nái (Nại). Ông người huyện Tấn Giang, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, gặp lúc Thế Tông (1738 - 1765) ( Võ vương Nguyễn Phúc Khoát) ban lệnh đổi sắc phục, vì hâm mộ vinh dự của áo mão (làm quan), nên cha con [28b] ba người cùng ngày dâng vàng xin làm Nội viện thị hàn, tiếng tăm đến tai vua, ngự khen là nhà phú hào; còn ông nội của tôi thần là Sư Khổng, người huyện Trường Lạc, Phúc Châu, bà nội tôi thần là Vương Thị Nghi tục gọi là Bà Nghi, cùng người họ Chu ở phủ Tứ Phong đều được xem là cự phách. Từ sau năm Bính Thân (1776), Tây Sơn vào chiếm, họ dỡ lấy phòng ốc, gạch đá, của cải chở về phủ Quy Nhơn, đất nầy trở thành vườn gò hoang. Sau khi Trung hưng tuy có người trở về, nhưng chưa bằng một phần trăm (mười phần ngàn) lúc trước.
KHO ĐIỀN TÔ (kho thóc thuế)
Ở bờ bắc Hậu Giang, kho làm dựa vào núi, ngày trước làm chỗ thu thuế trong hạt, đã được thay đổi, nay nền cũ vẫn còn.
BA KHO THUẾ BIỆT NẠP TÂN THẠNH, CẢNH DƯƠNG VÀ THIÊN MỤ
Ngày xưa đặt làm chỗ cho dinh Trấn Biên trưng thu tô thuế để chuyển về kinh, kho này ở bờ đông Tam Giang Nhà Bè. Từ năm Ất Mùi (1775) vua Duệ Tông (Định vương Nguyễn Phúc Thuần) lánh vào Gia Định thì bỏ 3 kho này, tất cả đều nạp vào kho chung Gian Thảo ([59][59]) để tiện việc chuyên chở cấp phát lương hướng. Còn các ngạch thuế của dân [29a] thì vẫn giữ nguyên để bảo tồn lệ cũ.
CHỢ NGƯ TÂN (CHỢ BẾN CÁ)
Còn gọi là chợ Bình Thảo, ở tổng Phước Vinh, khách buôn đông đúc, cả đường thủy và đường bộ đều thông suốt tới bến, hàng nước ngoài, thổ sản địa phương, sơn hào, hải vị không gì là không có, là một chợ miền núi rất đông đúc.
CHỢ THỦY VỌT
Ở tổng Bình Chánh, nhà cửa đông đúc, thuyền bè đến tận bến chợ, có nhiều sản vật ở núi rừng.
CHỢ BÀ LỊA (CHỢ BÀ RỊA)
Tục gọi Bà Địa, lại có tên là chợ Long Thạnh, nhà cửa liền nhau, đường thủy và đường bộ đều giao nhau, là một chợ lớn nơi miền biển đầm.
CHỢ BÌNH QUỚI (CHỢ THỦ THIÊM)
Thuộc huyện Bình An, là vùng ở tận phía nam của trấn nầy, mặt trông ra Bình Giang (sông Sài Gòn), đối diện trước thành Gia Định, thuyền bè đường sông biển đậu nối đuôi nhau, người ở đây sắm các loại ghe dài ngắn theo dòng nước đi bán cá thịt, đồ dưa quả và đồ ăn.
TRANG THUYỀN TỤ (XÓM SỬA GHE)
Ở bờ tây Tam Giang Nhà Bè. Khi xưa thuyền bè ở Trung Quốc ([60][60]) đến buôn bán mà bị hư hỏng rò rỉ, cần phải sửa sang hoặc đóng thuyền mới đều phải đến đây, tụ họp riết thành thôn xóm. Từ khi Tây Sơn kéo vào cướp phá mọi người dời đi chỗ khác, nay thành đất hoang.
QUÁN BÌNH ĐỒNG ([61][61]) (XỨ ĐỒNG CHÁY)
Ngày trước ở đây có trạm thôn Bình Đồng, nay đã dời đi nơi khác.
SƠN KHƯ NGỌ THỊ (CHỢ TRƯA GÒ NÚI) ([62][62])
Cách trấn về phía nam 37 dặm, lại đi về hướng nam một dặm nữa đến đầu bến đò Bình Giang, đây là vùng giáp giới của trấn Phiên An.
QUÁN BÌNH ĐÁN (XỨ BÌNH ĐÁN)
Tục gọi quán Mít, cách trấn về phía nam 21 dặm, quán chợ ít người, có bán điểm tâm.
THẠCH KIỀU (CẦU ĐÁ)
Ở phía tây bắc cách trấn nửa dặm, cầu xây bằng những tảng đá ong dài lớn chồng cài nhau gác ngang trên ruộng, dưới mở 3 cửa trống thông nước. Cầu dài 25 trượng, do thuộc trấn Trung bộ Cai cơ đội Lê Văn Hòa xây cất vào thời Thế Tông (Võ vương Nguyễn Phúc Khoát).
TÂN BẢN KIỀU (CẦU VÁN MỚI)
Ở thượng lưu Lộ Khê, tổng An Thủy, huyện Bình An, cách trấn về phía nam chừng 9 dặm. Tháng 6 năm Bính Thân (1776) đời Duệ Tông thứ 12( Định vương Nguyễn Phúc Thuần), Hữu phủ Kính quốc công Tống Phước Hợp qua đời, Lý tướng quân đạo Hòa Nghĩa mất người [30a] nương tựa, lại bị binh tướng Đông Sơn chèn ép kiếm chuyện, không dằn nổi phẫn uất, liền đem binh phản lại, họp thêm người Hoa trong hạt sung vào 8 đội ngũ được hơn 8.000 người, chia ra làm 4 sắc cờ: Lý Hiền tướng quân lãnh cờ vàng, Vương Nam tướng quân lãnh cờ trắng, Lý Lâm tướng quân lãnh cờ hồng và Trần Hổ tướng quân lãnh cờ lam. Lại còn mộ bắt người Minh Hương, Thanh Hà ([63][63]) cùng bọn côn đồ vô lại xưng hiệu là quân Trung Đạo chiếm cứ huyện Bình An, tha hồ cướp phá, bắt giết được người nào thì quân Trung Đạo mổ bụng ăn gan và ăn cả thịt, hung ác không đâu sánh kịp. Tháng 8, Đông Sơn Thượng tướng quân Đỗ Thanh Nhơn điều 5 tướng là Đỗ Hoành, Đỗ Kỵ, Đỗ Bố, Đỗ Bảng, Đỗ Nhàn đến đánh, quân họ Lý lui về dựa thế hiểm yếu ở núi Châu Thới. Thuở ấy binh Hòa Nghĩa dùng mác 8 thước ta, lưỡi như dao ở đầu cá đao vừa chém vừa đâm đều được, lại dùng dao lá bài, súng điểu thương làm môn sở trường, khi ra trận thì cột giấy vàng bạc và giấy tiền vào đầu, ý ắt chết. Quân Đông Sơn thì lấy [30b] thuốc vẽ năm màu ([64][64]) bôi mặt, cầm đuốc dầu rái và cán sào cột dây mây có cục gai vào đầu sào rủ xuống như đuôi chim trĩ, dùng đao dài dao ngắn làm món sở trường. Họ giao chiến ở chợ Bình Tiên, quân Hòa Nghĩa giả thua dụ quân Đông Sơn đến núi Châu Thới, phục binh ở cầu Ván Mới bất thình lình nổi dậy đánh giết, binh tướng Đông Sơn chết và bị thương không xiết kể, cả thầy dạy võ là Nguyễn Liễu Cửu cũng bị giặc giết. Bọn Đỗ Hoành sợ chạy về Sài Gòn, quân Hòa Nghĩa tới đóng tại chợ Thủy Vọt, tính kế vượt sông đánh úp dinh Phiên Trấn, gặp khi Mục vương từ Quy Nhơn chạy vào Gia Định, ra lệnh cho Tham mưu Nguyễn Khoáng đến báo tin, từ ấy quân họ Lý thừa thế thẳng xuống Phiên Trấn, bèn gây nên mối họa bức vua nhường ngôi, cùng tự chuyên lập vua khác.
TRẤN ĐỊNH TƯỜNG
Lỵ sở trấn Định Tường ở đất thôn Mỹ Chánh, tổng Kiến Thạnh, huyện Kiến Hòa. Ngày 18 tháng 2 mùa xuân năm Kỷ Mùi (1679) đời Thái Tông năm thứ 32 [31a] (Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần), tướng Long Môn là Dương Ngạn Địch từ nước Đại Minh sang kinh xin quy phụ. Vua sai Xá sai là Văn Trinh, Tướng thần lại là Văn Chiêu đưa dụ văn sang vua Cao Miên là Nặc Thu, bảo chia đất này cho đoàn Dương Ngạn Địch ở. Tháng 5, Văn Trinh dẫn cả binh biền Long Môn và thuyền bè đến đóng ở vùng Mỹ Tho, rồi xây dựng nhà cửa, qui tụ người Việt, người Thổ kết thành thôn xóm. Đến đời Hiển Tông (Nguyễn Phúc Chu) lập ra phủ trị ở phía bắc chợ, lệ thuộc vào dinh Phiên Trấn. Đời Duệ Tông (Nguyễn Phúc Thuần) cải đặt làm đạo Trường Đồn có một viên Cai cơ hoặc Cai đội và một Thư ký ở làm việc, sau nầy mới lập dinh trấn (xin xem rõ trong Cương vực chí), ấy là tùy thời mà dời đổi, hoặc nam hoặc bắc, hoặc tới hoặc lui cũng chẳng ngoài cuộc đất ấy, nhưng thành trì thì chưa đắp. Phía nam lỵ sở là chợ phố lớn Mỹ Tho, mái ngói cột chạm phủ, đình cao, nha thự ([65][65]) rộng, thuyền bè sông biển ra vào, buồm thuyền trông như mắc cửi, thật là nơi đô hội lớn phồn hoa huyên náo. Từ khi Tây Sơn chiếm cướp, nơi đây thành chiến trường, [31b] đốt phá gần hết. Từ năm Mậu Thân (1788) Trung hưng tới nay, người ta dần dần trở về, tuy nói trù mật, nhưng so với xưa thì chưa được phân nửa. Năm Nhâm Tý (1792), xây cầu bằng cây kè ngang qua sông để thông với đồn Kiến Định, năm Tân Dậu (1801) thì bị hỏng, nhưng lúc ấy loạn lạc đã yên, trong vùng không có việc khẩn cấp, mà dòng sông lại sâu, nước chảy xoáy mạnh nên không làm cầu lại, nay qua phải dùng đò ngang.
ĐỒN MỸ THO
Ở phía nam trấn chừng một dặm, trước kia đây là rừng hoang, là hang ổ của hùm beo. Năm Nhâm Tý (1792) thời Trung hưng mới đắp đồn vuông, chu vi 998 tầm, có mở 2 cái cửa bên phải và trái, ở cửa có cầu treo bắc ngang, hào rộng 8 tầm, sâu 1 tầm, bốn mùa nước đều ngọt, có nhiều cá tôm, dưới cầu có dòng nhỏ để thông với sông lớn Mỹ Tho, ngoài hào có đắp lũy đất có cạnh góc lồi lõm như hình hoa mai, mặt trước chân lũy ra 30 tầm đến sông Lớn. Trong đồn có kho gạo, kho thuốc súng, trại quân và súng lớn, tích trữ đầy đủ nghiêm túc. Mặt sông rộng lớn; năm Giáp Dần (1794) trên đồn đặt súng lớn, có bắn thử qua bờ sông bên kia [32a], cách xa 10 dặm mà cây cành trong rừng đều bị trốc gẫy, ấy là do đường đạn đi mạnh thế ([66][66]).
HUYỆN KIẾN HÒA
Công việc nhiều, trị sở ở thôn Mỹ Hóa, tổng Kiến Thạnh, ấy là chỗ huyện lỵ xưa, cách trấn 20 dặm rưỡi, nơi ấy gọi là Lương Quán, có chợ nhỏ. Từ khi Tây Sơn chiếm cướp, huyện bị hoang phế rất lâu, năm Gia Long thứ 19 (1820) ([67][67]) mới lập huyện lại ngay chỗ đất cũ, quy chế giống huyện ở Phiên An.
HUYỆN KIẾN ĐĂNG
Công việc nhiều và khó nhọc, trị sở ở thôn Mỹ Đức Đông, vùng sông Thi Giang, quy mô như huyện trên.
HUYỆN KIẾN HƯNG
Trị sở ở địa phận thôn Tân Lý Tây, chỗ đồn cũ Kiến Định, quy mô cũng giống các huyện trên.
CHỢ LƯƠNG PHÚ (CHỢ BẾN TRANH)
Cách trấn về phía đông hơn 14 dặm, quán xá đông đúc. Bánh tráng ở chợ nầy dày, lớn, thơm, giòn mà giá rẻ, người qua lại đây thường mua đem đi làm quà tặng nhau, có tiếng khắp xa gần. Đầu chợ phía đông có Bến Chùa, ở đó đều là những nhà bán lúa gạo, thuyền bè đi mua gạo do đó thường đậu chùm nhum ở đây, cũng gọi là một chợ lớn.
[32b] CHỢ HƯNG LỢI (CHỢ VŨNG GÙ)
Ở phía nam sông Bảo Định, phố xá liền nhau như vẩy cá. Chợ trông ra sông lớn, kẻ qua lại thường đậu thuyền ở đây đợi con nước lên rồi theo dòng nước đi xuống đông hay là lên tây, cho nên trên sông có nhiều xuồng chở bán đồ ăn, trong ấy có người bán thịt lợn luộc chín gọi là thịt Bái Đáp, vì làng Bái Đáp thuộc huyện Quảng Điền, kinh đô Phú Xuân chuyên nghề làm heo bán thịt mà có cách luộc ăn rất ngon béo, người ở chợ nầy bắt chước làm theo, cũng gọi là thịt Bái Đáp.

TRẤN VĨNH THANH (Sự thay đổi xin xem rõ ở Cương vực chí)
Vào tháng 2 năm Quý Dậu niên hiệu Gia Long 12 (1813), khâm mạng, Trấn thủ Lưu Phước Tường đắp thành đất. Lưng hướng Kiền (hướng tây bắc), mặt hướng Tốn (hướng đông nam), từ phía nam qua phía bắc cách 200 tầm, từ đông qua tây cũng vậy, chỗ giữa của bốn mặt thành lõm vào, phía ngoài có thành cong bao vòng chỗ cửa hình như đầu cái khuê ([68][68]), bốn góc thành có sừng nhọn như hình kim quy, hay như hình hoa mai. Trong thành có 2 con đường dọc, 3 con đường ngang, trước [33a] dựng hành cung, ở giữa là 3 công thự, sau có kho chứa, trại quân và nhà thừa ty đều ở hai bên phải và trái. Hào rộng 10 tầm, phía trái thành là sông Long Hồ, phía phải là Ngư Câu (Rạch Cá), mặt sau là dòng sông lớn Tiền Giang, mặt trước thành có đào ngòi cừ sâu, dài 425 tầm, bề ngang 40 tầm thông với sông Long Hồ và Ngư Câu (Rạch Cá) để làm hào ngoài thành. Góc thành phía đông có đường cái quan dọc theo sông, phía trái là sứ quán, phía phải là chợ Vĩnh Thành, ngòi chảy ngang đầu đường cái quan, bắc cầu dài, đi ngang lỵ sở cũ, qua cầu sông lớn Long Hồ, đến chợ Long Hồ. Ở ngoài bờ ngòi góc phía nam là xưởng thủy quân, bên ngoài có đồn nhọn góc ba mặt bao theo, góc phía tây nam ngòi có bắc cầu thông qua, mặt sau giáp sông, có nhà cửa tiệm quán, thật là nơi trọng yếu bề thế đẹp đẽ.
ĐỒN CHÂU ĐỐC
Ở phía đông sông Vĩnh Tế thuộc Hậu Giang, cách trấn về phía tây 326 tầm. Niên hiệu Gia Long 14 (1815), Trấn thủ Vĩnh Thanh là Lưu Phước Tường phụng sắc điều quân dân trong trấn hạt gồm 3.000 người, mỗi tháng cấp cho mỗi người 2 quan tiền và một vuông rưỡi gạo. [33b] Ngày 4 tháng 12 khởi công đắp đồn dài hình lục giác, từ trước đến sau 324 tầm, từ trái qua phải 164 tầm, hai bên phải trái đều có hai cửa, mặt sau một cửa, bề cao 7 thước ta, chân dày 6 tầm, ngọn túm bớt 5 thước ta, có hai bậc, lưng tựa hướng Kiền, mặt hướng Tốn, phía phải giáp sông lớn, 3 phía trước sau và trái có hào rộng 20 tầm, sâu 11 thước ta, thông với sông cái. Trong đồn có phòng lính ở, kho chứa, súng lớn và quân khí đầy đủ, lấy quân trong 4 trấn và đồn Oai Viễn mỗi phiên 500 người đến đóng giữ, nằm ngang đối diện có đồn Tân Châu ở Tiền Giang cách về phía đông 32 dặm rưỡi, phía tây cách trấn Hà Tiên hơn 203 dặm, phía bắc cách thành Nam Vang 244 dặm rưỡi, thật là một nơi biên phòng trọng yếu vậy.
ĐỒN CHÂU GIANG
Trước là thủ sở Châu Đốc, ở đầu mõm cồn là vùng đất bị nước vỗ chụp, thường bị nước lụt xoáy mạnh sụt lở, mà lại sóng gió ì ầm, thương thuyền đến dừng nghỉ không tiện. Mùa xuân niên hiệu Gia Long thứ 17 (1818), vua ban chỉ cho Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Xuân xem xét địa điểm, dời lên vùng thượng lưu cách chỗ cũ một dặm, đắp đồn đất vuông, tựa [34a] hướng Quý (hướng bắc) mặt trông đến hướng Đinh (hướng nam), mỗi mặt 30 tầm, cao 6 thước 5 tấc ta, chân dày 3 tầm, ngọn túm bớt 4 thước ta, chỗ chính giữa mặt đồn đều đắp nhọn ra như hình bát giác. Mặt phải mặt trái chỗ gần góc mặt tiền đều mở một cửa, hào rộng 3 tầm, có lũy dài 4 tầm, mặt trước bên phải cách sông 35 tầm, đổi tên lại là đồn Châu Giang, làm chỗ đóng quân để phòng thủ.
HUYỆN TÂN AN
Công việc nhiều và khó nhọc, ở địa phận thôn Phước Hạnh xứ Ba Vát cách trấn về phía đông 121 dăm, trông ra sông. Chợ Ba Vát phố xá đông đúc, quy mô huyện nầy cũng như các huyện ở Phiên An. Trước đây vào tháng 3 năm Đinh Dậu (1777), Tây Sơn vào cướp; tháng 7, Mục vương chạy đến đây, Tây Sơn vây chặt mấy lớp, lúc ấy Quận công Tôn Thất Chất, Nội tả chưởng dinh Nguyễn Mẫn, Chưởng cơ Tống Phước Hựu đều bị bệnh mất cả, duy còn Điều khiển Tống Phước Hòa một mình chống giữ, nhiều phen phá được quân địch, quân thanh khá chấn động, nhưng ngặt nỗi 4 mặt đều có quân địch, thế cô không người tiếp viện. Đến tháng 8, địch thêm quân đánh rát, quan quân đuối sức, Mục vương bị địch bắt đi, Tống Phước Hòa phải chết vì quốc nạn, thật đáng thương thay!
[34b] HUYỆN VĨNH AN
Công việc nhiều và khó nhọc, trị sở ở thôn Vĩnh Phước, chợ Sa Đéc, quy mô như huyện trước.
HUYỆN VĨNH BÌNH
Công việc nhiều và khó nhọc, trị sở ở đất hai thôn Tân Hiệp và Phú An, xứ Mân Thít, quy mô như các huyện trước.
HUYỆN VĨNH ĐỊNH
Công việc khó khăn, trị sở tại đất thôn Tân An, xứ Cần Thơ, quy chế như các huyện trước.
MIẾU HỘI ĐỒNG
Ở địa phận phường Sùng Văn, huyện Vĩnh An, rường cột bằng gỗ thông, gỗ đàn, hiên vách đều sơn chạm trang trí tốt đẹp, dùng làm đàn tế lễ, hàng năm có 2 lần tế xuân và thu, trấn quan chiếu theo nghi thức để hành lễ, có chép vào Tự điển.
ĐỀN LỄ CÔNG
Ở trên cù lao lớn sông Hậu Giang, tháng 7 năm Kỷ Mão (1699) đời Hiển Tông thứ 9 (Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu), (năm thứ 20 niên hiệu Chính Hòa đời Lê Hy Tông, năm thứ 36 Đại Thanh Càn Long), Nặc Thu người nước Cao Miên đắp lũy Gò Vách, Nam Vang và Cầu Nôm, rồi cướp bóc dân buôn. Tướng Long Môn là Thống binh Thắng Tài hầu Trần Thượng Xuyên đang giữ Doanh Châu đem việc ấy báo lên. Tháng 11, Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn công ([69][69]) và Tham mưu Cẩm Long hầu Phạm công điều động Lưu thủ dinh Trấn Biên là Nguyễn Hữu Khánh và biền binh 2 dinh Quảng Nam, Bình Khang cùng tướng sĩ Long Môn [35a] đến đóng ở Tân Châu để dò xem tình hình giặc hư thật thế nào, rồi tháng 3 năm Canh Thìn (1700) kéo quân thẳng đến lũy Nam Vang. Quân địch bày trận chờ đợi, Lễ công đứng đầu thuyền rút gươm chỉ huy ba quân tiến vào, tiếng súng đại bác nổ vang như sấm. Do Nặc Thu lui trước nên quân Cao Miên không đánh mà tự tan, quan quân phá luôn lũy Gò Vách, Nặc Yêm ra đầu hàng. Lễ công vào đồn vỗ yên nhân dân. Tháng 4, Nặc Thu đến trước quân dinh xin chịu tội, Lễ công lấy lời thành thực an ủi, lịnh cho Thu về lại La Vách chiêu tập dân lưu tán, Lễ công kéo quân về cù lao Cây Sao (cù lao này xưa có nhiều cây sao, tức nay là cù lao Ông Chưởng) làm tờ báo tiệp và chờ lệnh.
Đêm 26 tháng ấy bỗng có gió mưa tầm tã, đất đầu cù lao bị sụt lở, tiếng vang như sấm lớn. Đêm ấy Lễ công nằm mộng thấy một người cao lớn mặc áo gấm, tay cầm cái búa Việt màu vàng, mặt đỏ như son, mày râu bạc trắng, đến trước ông bảo rằng: Tướng quân hãy kéo quân về sớm, không nên ở lâu nơi ác địa nầy. Công thức dậy, cảm thấy dã dượi nhưng vì việc ngoài biên chưa xong, bọn yêu nghiệt còn ẩn núp chốn núi rừng. [35b] Công đang trù trừ chưa quyết định thì ba quân bỗng bị phát bệnh dịch mà chính Công cũng bị nhiễm nhẹ, dần dần hai chân mất hẳn cảm giác, không ăn uống được. Gặp ngày Đoan ngọ (ngày 5 tháng 5), Công miễn cưỡng ra dự tiệc để khen lao tướng sĩ, rồi bị trúng gió mà thổ huyết, bệnh tình càng trầm trọng. Ngày 14, Công kéo binh về, ngày 16 đến Sầm Giang (Rạch Gầm) thì than ôi! Công từ trần. Quan quân chở quan tài về dinh Trấn Biên tạm quàn ở đấy ([70][70]), tâu trình sự việc lên vua. Vua nghe tin lấy làm thương tiếc than thở hồi lâu sắc tặng là Hiệp tán Công thần đặc tiến Chưởng dinh, thụy là Trung Cần, thọ được 51 tuổi. Người Cao Miên lập miếu thờ Công ở đầu cù lao Nam Vang. Cù lao nơi Công dừng binh, nhân dân cũng lập đền thờ và gọi tên cù lao ấy là cù lao Ông Lễ, còn chỗ dừng quan tài ở dinh Trấn Biên cũng lập miếu thờ, các miếu ấy đều rất linh ứng. Phải chăng do lòng trung thành chính khí của Công cùng trời đất bàng bạc khắp nơi vậy.
Còn Trần tướng quân nhiều phen giao chiến làm cho quân địch phải kiêng sợ, sau cũng được lập đền thờ ở đó và ở xã Tân An dinh Phiên Trấn. [36a] Tại thôn Tân Lân, dinh Trấn Biên mọi người đều ngưỡng mộ công khai khẩn của Lễ công nên hương khói không bao giờ dứt.
CHỢ LONG HỒ
Cách trấn về phía đông 1 dặm, hai mặt giáp sông, chợ lập ra vào năm Nhâm Tý đời Túc Tông (Đỉnh Quốc công Nguyễn Phúc Chú) ([71][71]) năm thứ 8 (1732), phố xá liền nhau, hàng hóa tụ tập đủ cả trăm món, dài đến 5 dặm, ghe thuyền đậu đầy bến, miếu thần, đình làng mọc lên, đàn hát náo nhiệt, là phố chợ lớn trong trấn.
CHỢ SA ĐÉC
Ở về phía đông phố huyện Vĩnh An. Phố chợ nằm dọc theo bờ sông, nhà cửa nối nóc chọi mái nhau san sát như vảy cá kéo dài đến 5 dặm, dưới sông có những be tre, gác làm phòng ốc, đậu sát thành hàng, hoặc bán hàng tơ đoạn cùng đồ dùng từ nam bắc chở đến, hoặc bán các thứ dầu rái, than, mây, tre, khô, mắm v.v... trên bờ dưới sông có trăm thứ hàng hóa tốt đẹp, thật là nơi phồn hoa tráng lệ, nhìn lóa mắt thỏa lòng.

[38b] TRẤN HÀ TIÊN
Trấn thự Hà Tiên, nằm hướng Kiền (tây bắc) trông ra hướng Tốn (đông nam) lấy núi Bình Sơn làm gối, Tô Châu làm tiền án, biển cả Minh Hải làm hào phía nam, Đông Hồ làm hào phía trước, ba mặt có lũy đất từ Dương Chử đến cửa hữu dài 112 trượng rưỡi, từ cửa hữu đến cửa tả dài 153 trượng rưỡi, từ cửa tả đến xưởng Thuyền ra Đông Hồ 308 trượng rưỡi, các lũy nầy đều cao 4 thước ta, dày 7 thước ta, hào rộng 10 thước ta. Ở giữa làm công thự, vọng cung, lại ở trước công thự, hai bên đặt dãy trại quân, trước sân có cầu Bến Đá, phía trái có sứ quán, phía phải có công khố. Dinh Hiệp trấn ở chân núi Ngũ Hổ, ngoài vọng cung về phía trái có chợ trấn, phía trái công thự có đền Quan Thánh, sau thự có chùa Tam Bảo. Bên trái chùa có đền thờ Mạc công. Chợ trấn trông về đông là bến hồ, ở đó có trại cá, phía bắc công khố là miếu Hội Đồng, phía bắc miếu có xưởng sửa thuyền, chia thành khu ngang dọc, lấy đường lớn làm ranh; phía tả miếu Quan Thánh là phố Điếu Kiều, đầu [37a] bến có bắc cầu ván thông ra biển tiếp với hòn Đại Kim, phía đông phố Điếu Kiều là phố chợ cũ, qua phía đông chợ này là phố chợ Tổ Sư, kế nữa là phố lớn, tất cả đều do Mạc Tông gầy dựng từ trước. Đường sá giao nhau, phố xá nối liền, người Việt, người Tàu, người Cao Miên, người Chà Và đều họp nhau sinh sống, ghe thuyền ở sông biển qua lại nơi đây như mắc cửi, thật là nơi đại đô hội ở dọi biển vậy.
ĐẠO LONG XUYÊN (CÀ MAU)
Lỵ sở ở phía bờ đông trấn thự, giáp biển cả. Biển có nhiều thứ cá lớn, ở sông có nhiều cá sấu. Vốn là đất cũ của Cao Miên gọi là Tứk Kha Mâu ([72][72]), người Hoa gọi là Hắc Thủy, đất ở đây thường ẩm thấp phải gác gỗ để ở (nhà sàn). Ban đầu Mạc Cửu đặt làm đạo. Niên hiệu Gia Long thứ 7 (1808) mới đặt làm huyện, chia làm hai tổng cũng trực thuộc về đạo. Quan viên đặt một văn, một võ. Về võ thì có Cai cơ hoặc Cai đội, còn văn thì có Tham luận hoặc Thư ký cùng nhau giữ gìn đạo. Quản lý việc thu thuế và xử lý việc ngục tụng thì có các thuộc lại được đội Long Quang tùng sự. Phía trước lỵ sở của đạo là phố chợ, người Việt, người Tàu và người Cao Miên tụ tập đông đúc, tàu Xiêm La thường đến mua bán, đổi chác hàng hóa. Về phần đem sức ra mà khẩn đất hoang thì người Tàu là cần mẫn nhất, mà cả việc đánh lưới biển, chận đăng sông, cùng buôn bán quan trọng cũng do người Tàu chủ trì.
ĐẠO KIÊN GIANG
Tại phía đông trấn, tục gọi là Đầm Cùng (Cùng Đàm), phía nam thông với cảng Lịch Giang (Rạch Sỏi), trước là chỗ hoang vắng, nay quan binh trú đóng, thương lữ hội tập, đặt một huyện, hai tổng, lãnh đạo bởi một quan văn và một quan võ, còn việc thu thuế và xử án thì có các thuộc lại được quân Kiên Nghị tùng sự, là đất phồn thịnh, các công sai phòng hải, cùng sứ giả Xiêm La luôn tới lui.
MIẾU HỘI ĐỒNG
Ở bên cạnh lỵ sở đạo Long Xuyên, các thứ như bảng vàng, tú bình ([73][73]), cửa son, phòng kín, đều màu sắc đẹp đẽ thanh khiết, phụng sự linh thần trong tam giới, thật là linh ứng được ghi trong tự điển.
MIẾU HẢI LINH
Ở trên núi Bạch Thạch thuộc đạo Long Xuyên, mặt trông ra vũng biển, vách rồng đàn phượng([74][74]) rất nguy nga rực rỡ, thờ linh thần sông biển, dân địa phương sùng bái kính cẩn, thường được linh ứng.
CHÙA TAM BẢO
[37b] Chùa Tam Bảo ở sau trấn thự, cảnh chùa rộng rãi, tượng Phật to lớn, chùa do Thống binh Mạc Cửu dựng lên từ buổi đầu. Thân mẫu Mạc Cửu là Thái phu nhân tuổi ngoài 80 tựa cửa nhớ con tha thiết, từ Lôi Châu cưỡi thuyền vượt biển đến, Mạc Cửu giữ mẹ lại phụng dưỡng. Phu nhân vốn mộ đạo Phật, lòng rất thành kính, nhân ngày lễ tắm Phật, phu nhân vào chùa cúng dường chiêm bái, trong khoảnh khắc bỗng hóa ([75][75]) trước điện Phật. Mạc Cửu theo lễ chôn cất tại núi Bình Sơn, rồi đúc tượng mẹ bằng đồng thờ tại chùa này ([76][76]) nay tượng vẫn còn.
AO THỔ VŨ
Ở sau miếu Quan Thánh trong trấn thành, diện tích rộng sâu hơn một mẫu, vườn rau ở phía nam, nước tưới được dẫn từ đây đến đầy dẫy, trong ao có nhiều cá.



________________________________________
([1][1]) Không chỉ toàn bộ vùng đất Nam Bộ
([2][2]) Bản in kèm bản dịch VSH chép "cao 10 thước ta" (高十尺). Bản VHN lưu trữ đều chép cao 13 thước ta.
([3][3]) Bản Nguyễn Tạo và VSH viết chữ 樹. Bản của VHN viết chữ ¸. Cả hai chữ đều đọc là thụvà đều có nghĩa là "dựng lên".
([4][4]) Bản dịch của VSH chép là "Năm Gia Long thứ 6 (1807)" (Bt).
([5][5]) Bản in kèm bản dịch VSH chép Càn Khảm hiểm lộ, không có chữ Nguyên.
([6][6]) Thuyền thật lớn là tàu. Trong Nam gọi thuyền lớn là ghe, thuyền nhỏ là xuồng.
([7][7]) Tế mã (祭禡): Khi đoàn quân dừng tại đâu, sợ xúc phạm đến thần nơi đó, nên phải cúng tế gọi là mã (禡). Thiên Vương chế ở sách Lễ chép: "Tế mã nơi chỗ quân chinh phạt".
([8][8]) Kỳ đạo tế (旗纛祭): Kỳ đạo là cờ tiết mao, là cờ cái cắm ở trung quân, cũng đọc là kỳ độc. Kỳ đạo tế là lễ cúng cờ cái trước hàng quân khi xuất chinh.
([9][9]) Giác Ngư đồn (角魚屯): Giác ngư là con cá trê. Chữ giác (角) không phải có nghĩa sừng mà là ngạnh. Con cá trê có hai cái ngạnh nên gọi là giác ngư. Đồn Giác Ngư là đồn Cá Trê.
([10][10]) Tức đời Chúa Nguyễn Phúc Chu.
([11][11]) Trung dinh tức dinh của Trấn thủ.
([12][12]) Bản kèm bản dịch Nguyễn Tạo chép 65 dặm (六十五里). Bản kèm bản dịch VSH lại chép 5, 6 chục dặm (五,六十里)
([13][13]) Cây si, tên chữ là dong thọ, cũng gọi là cây đa, cây da.
([14][14]) Võ Tánh và Ngô Tùng (Tòng) Châu là hai đại thần tuẫn tiết chết theo thành khi thành Qui Nhơn thất thủ.
([15][15]) Tức Công chúa Ngọc Du, em gái của Gia Long (Bt).
([16][16]) Tức Trần Quang Diệu, võ tướng của Tây Sơn.
([17][17]) Cả hai bản nguyên văn của VHN và VSH đều chép nhầm là Lê Tông Chất (黎宗質) nhưng bản Nguyễn Tạo chép Lê Văn Chất và qua sử sách xác định là Lê Văn Chất (黎文質), vậy xin dịch Lê Văn Chất.
([18][18]) Thần Nam Hải tức thần cá voi, còn gọi là cá Ông.
([19][19]) Hà Bá, Thủy Quan, Ngọc Lân là các thần sông gốc thủy tộc ở triều đình Long vương theo tín ngưỡng dân gian.
([20][20]) Cả ba bản nguyên văn đều chỉ viết Dương Văn soạn (楊文撰), nhưng sử sách xác định sách này do Dương Văn An soạn.
([21][21]) Chữ Tri (知) trong ngữ cảnh này có nghĩa là chủ, là người chỉ huy. Vậy Tri Binh chính viện là làm Trưởng viện Binh chính cũng như Tri huyện là làm trưởng một huyện, tức quan đầu huyện.
([22][22]) Tướng người Hoa Lý Tài - Nghĩa Hòa đoàn ép Định vương làm Thái Thượng vương nhường ngôi cho Mục vương Nguyễn Phúc Dương lên ngôi làm Tân Chánh vương.
([23][23]) Trong Thiền tông ngũ gia là "Qui Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn" thì tông Lâm Tế truyền ra nước ngoài sâu rộng nhất. Riêng ở Đồng Nai thì ảnh hưởng của hai tôngLâm Tế và Tào Động đến nay hãy còn sâu đậm.
([24][24]) Nguyên văn: Già Lam, là từ gọi tắt tiếng Phạn Tăng già lam ma, dịch nghĩa là "chúng viên", tức khu vườn nơi tăng chúng tụ lại tu học. Sau gọi chùa chiền là Già lam.
([25][25]) Bản dịch của VSH chép: "Năm Gia Long thứ 15 (1816)" (Bt).
(4) Mua mão: Tức mua sỉ, mua trọn.
([26][26]) Chữ (礫) có nghĩa là sạn, hay sỏi. Vì chưa có điều kiện đi tới địa phương này để xác định người nơi ấy xưa kia gọi đây là bến Sạn hay Sỏi. Nay xin ghi cả hai tên.
([27][27]) Ngược lại, có một số địa phương ở Nam bộ còn giữ được tên như sông Đốc Vàng, sông Bà Kí, chợ Bà Hom, chợ Bà Quẹo, chợ Bà Chiểu, và trại Ông Yệm! v.v... Bổ sung thêm một số địa phương chỉ còn tên chức vụ như cầu Ông Lãnh, cù lao Ông Chưởng, cảng Ông Đốc.
([28][28]) Nguyên văn viết (詑). Đây là chữ Nôm, có thể đọc sá hay xá.
([29][29]) Phải chăng La Vách là Lovek ở phía bắc Oudong? Từ La Vách cũng chỉ vùng Long Hồ, Long Xuyên, nhưng đọc toàn mạch văn tiếp theo đoạn nói về cầu Cao Miên thì có lẽ thành La Vách là Lovek ở phía bắc Nam Vang.
([30][30]) Lời xưa rằng: mặt trời mặt trăng tuy sáng, khó soi thấu dưới lòng cái chậu úp (Nhật nguyệt tuy minh, nan chiếu phúc bồn chi hạ日月雖明難照覆盆之下)
([31][31]) Tức Trần Thượng Xuyên.
([32][32]) Tức đảo Hải Nam, Trung Quốc.
([33][33]) Cả hai bản nguyên văn của VSH và bản của Nguyễn Tạo đều chép đến tháng 12 thì mất (十二月) e không chính xác vì khi chỉ tháng 12 (tháng chạp) người ta thường viết là lạp nguyệt (臘月).
([34][34]) Nguyên văn viết Phiên dân (藩民) nghĩa là dân nước Phiên thuộc, tức chỉ dân Cao Miên vì Cao Miên lúc này là Phiên thần của Việt Nam.
([35][35]) Tức Tĩnh Đô vương.
([36][36]) Tức Hoàng Ngũ Phúc.
([37][37]) Tịnh là con dòng chính của Nguyễn Siêu Quần, người huyện Phù Ly. Siêu Quần tự là Thuần Nhất, biệt danh Bất Nhị, rất nổi tiếng lý học, thông thạo thuật dùng binh, môn nhân gọi là Siêu Quần tiên sinh.
([38][38]) Nguyên văn: Huệ tương cam tâm, nếu mà dịch là "Huệ phải đành lòng": là hiểu thành ngữ này theo ngữ khí Việt Nam. Thành ngữ Tương cam tâm ở Hán văn không có nghĩa "phải đành lòng" như người Việt mình thường hiểu nhầm mà có nghĩa là "muốn giết chết". Thành ngữ này trongLiêu Trai chí dị, Bồ Tùng Linh dùng rất nhiều, và đa phần dịch giả Việt Nam mình đều dịch là "Mới vừa lòng, mới hả dạ".
([39][39]) Chữ境trong Nam quen đọc Kiểng, ngoài Bắc đọc Cảnh.
([40][40]) Chữ Nôm ở nguyên văn viết哥啵, bản VSH dịch là Cà Rá nhưng chữ Nôm Cà Rá lại viết là ¹鋁. Vậy tạm dịch là Kha Pha.
([41][41]) Nguyên văn viết Vũng Long nhưng phải đọc là Vũng Luông.
([42][42]) Thái Khang dinh nay là đất Khánh Hòa (Nha Trang - Phú Yên).
([43][43]) Phước Tứ: ý được ban phước, tức không đánh đổ máu mà được, ta có thể dịch thoáng là "lũy trời cho" (福賜).
([44][44]) Mục vương Nguyễn Phúc Dương là con của Tuyên vương Nguyễn Phúc Hiệu.
([45][45]) Theo Trương Vĩnh Ký trong PCGBC thì sông này là sông Nước Lộn, tên chữ là Thủy Hiệp giang. Trịnh Hoài Đức viết Đảo Thủy là dịch ý Nước Lộn.
([46][46]) Sứ lộ (使路) tức đường Sứ giả, viết theo Nôm là塘使.
([47][47]) Nguyên văn cả hai bản VSH và VHN đều chép nhầm là Thần khố (神庫) thay vì Thần miếu (神廟)
([48][48]) Dị lễ (肄禮): Là học tập lễ nghi. Dị nghiệp là học tập nghề nghiệp.
([49][49]) Nguyên văn: thần bài (bài vị ghi danh tước thần). Kim khám (trang thờ thần). Tôn (bình giềng vàng). Lôi (chén uống nước có vẽ hình mây sấm). Phủ quỹ (mâm đựng xôi cúng thần). Biên (tộ đựng muông sinh cúng thần). Đậu (khay đựng dưa xổi cúng thần).
([50][50]) Khâm sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Phúc Lễ là Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (Kính). Phúc Lễ là tên tục của ngài!
([51][51]) Nguyên văn bản in kèm bản dịch Nguyễn Tạo chép duy kiến惟見. Hai bản của VSH và VHN đều chép di kiến遺見. Cả hai chữ duy (惟) và di (遺) đều hợp nghĩa.
([52][52]) Loạn thần (亂臣): chữ loạn ở từ đôi này có nghĩa là "trị yên" chớ không phải là "làm loạn", như câu Võ vương hữu loạn thần thập nhân (武王有亂臣十人) là: vua Võ có mười bầy tôi có tài trị yên nước.
([53][53]) Nguyên văn Hậu Quan Âm quán (後觀音觀) có nghĩa là phía sau có điện quán Quan Âm, tức chùa Quan Âm.
([54][54]) Nguyễn Ánh lên ngôi tại Gia Định năm 1778 nên Thế Tổ Cao Hoàng năm thứ 22 là năm1799.
([55][55]) Chỉ tác giả sách này là Trịnh Hoài Đức.
([56][56]) Diên Lộc hầu tức Cai cơ Nguyễn Diên có công đánh chiếm lũy Phước Tứ.
([57][57]) Tiếng Khơ me gọi người lớn tuổi là Tà, các bậc thần cũng gọi là Tà như miếu ông Tà chẳng hạn. Tiếng Khơ me gọi đủ là Nặc Tà (Nec Ta) nghĩa là Tà thần. Người Khơ me thờ ba tôn vị, đó là Préa (Phật Đà, tức đức Thích Ca Mâu Ni), Nec Ta tức Tà thần vừa nói ở trên và Á Rặc (tức Ma quỷ). Xây Á Rặc là kiểu lên đồng của Khơ me, cấm người lấy ống lá đu đủ xoi vách xem lén qua lỗ cuống lá.
([58][58]) Chùa này nay ở giữa Tân Vạn và Chợ Đồn, bên cạnh bờ sông Đồng Nai với biển hiệu đề bằng chữ Hán là Sắc Tứ Hộ Quốc Quán Tự (敕賜護國觀寺) và bằng chữ quốc ngữ là "Chùa Sắc Tứ Hộ Quốc Quan".
([59][59]) Kho Gian Thảo là kho chỗ Cầu Kho của trấn Phiên An.
([60][60]) Nguyên văn Bắc thuyền (北船) không thể dịch "Thuyền ngoài Bắc Hà" được vì thời đó Nam - Bắc nước ta không thông thương nhau.
([61][61]) Quán Bình Đồng, quán Bình Đán: Chữ quán (館) nầy nằm trong ngữ cảnh hai đoạn nói về Bình Đồng và Bình Đán, không có nghĩa là "Cái quán ăn", "Cái quán nước" hay "Cái quán bán đồ vật" mà có nghĩa là "cái xứ, cái xóm chợ nho nhỏ". Nguyên văn viết: "Xưa ở Bình Đồng Quán cô thôn Bình Đồng". Nếu là cái quán ăn thì không thể có cái thôn Bình Đồng được.
([62][62]) Đây là gò núi có chợ nhóm vào buổi trưa.
([63][63]) Minh Hương (明香) là tên làng người Hoa ở trấn Phiên An. Thanh Hà (清河) là tên làng người Hoa ở Trấn Biên.
([64][64]) Nguyên văn: Ngũ sắc nhan liệu tức thuốc vẽ năm màu, chủ yếu là hùng hoàng, chu sa.
([65][65]) Nguyên văn: Cao đình quảng tự (高庭廣寺). Đình (庭) có nghĩa là chỗ quan làm việc,tự (寺) không phải cái chùa mà là nha thự chỗ quan cư ngụ.
([66][66]) Chỗ này có lẽ tác giả hơi cường điệu vì 10 dặm xa hơn 6 km, đạn đại bác thời đó (1794) không thể bắn đi xa như vậy.
([67][67]) Bản của VSH chép là: "Năm Gia Long thứ 12 (1813)" (Bt).
([68][68]) Một dụng cụ dùng để đong ngày xưa, cũng có nghĩa là ngọc khuê, chưa rõ tác giả muốn ví với cái nào?
([69][69]) Tức Nguyễn Hữu Cảnh.
([70][70]) Quyền thố (權厝). Nguyên văn viết: Tải cửu hồi Trấn Biên dinh, quyền thố cụ dĩ sự văn(載柩回鎮邊營權厝具以事聞) nghĩa là: "chở quan tài về đến dinh Trấn Biên tạm quàn, tâu bày sự việc lên vua". Bản của VSH dịch là "Chở quan tài ông về dinh Trấn Biên tạm chôn rồi đem việc tâu lên", e không ổn: vì về mặt ngữ nghĩa ở thư tịch, chữ thố (厝) này Từ Nguyên chú một nghĩa duy nhất là "Quàn quan tài chờ chôn cất" (Đình cửu viết thố. Vị táng nhi dĩ đãi táng kỳ dã). Từ điển Từ Hải chú giải chữ Thố có hai nghĩa là Chôn và Quàn - (1- Thố, trí dã, vị an trí, cửu ư triệu huyệt nhi táng chi dã; 2- Kim đình cửu đãi táng giả diệc viết thố). Muốn chỉ rõ là chôn cất người ta thường nói đủ là an thố. Muốn chỉ rõ tạm quàn người ta nói đủ là quyền thố.
([71][71]) Tức Ninh Vương. Việt sử xứ đàng Trong của Phan Khoang ghi là Nguyễn Phúc Trú (Bt).
([72][72]) Cà Mau là Tức Kha Mau, cũng viết Tưk Kha Mâu, là kinh Nước Đen.
([73][73]) Tức bình phong ngũ sắc.
([74][74]) Nguyên văn: hạc đàn, long bích (鶴垓 , 竜壁) nghĩa là đàn tế vẽ hạc, vách điện vẽ rồng.
([75][75]) Chữ hóa (化) hay tọa hóa (坐化) chỉ người theo đạo Phật qua đời, thường thì chỉ các tăng ni qua đời.
([76][76]) Nguyên văn: phục phạm đồng vi tượng, tự vu kỳ tự (祀于其寺) nghĩa là: "lại đúc đồng làm tượng mẹ thờ tại chùa nầy". Chữ tự (祀) xác định tượng thờ là tượng của phu nhân chớ không phải tượng Phật, vì chữ tự (祀) chỉ sự thờ phụng mẹ cha hay thần thánh chớ không phải thờ Phật.

Nguồn: Văn Hóa Học [http://www.vanhoahoc.edu.vn/content/view/320/103/1/2/]

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Khói (thơ)

Khói

Một làn khói nhỏ
Trốn chiều bay đi
Khói ơi, nhớ nhé
Ru ai trở về...

Dù ngày đã muộn
Chóng tàn cuộc chơi
Nắng mưa rượt đuổi,
Sắc đào úa phai.

Dù không còn ai
Nhóm hồng bếp cũ
Áo không xanh nữa,
Ước thề lãng quên.

Ơi, cõi mông mênh
Khói về đâu vậy
Có cùng tóc mây
Níu mùa xuân lại?

Có cùng hoa trái
Vọng đến thẳm cùng
Đường em - cạm bẫy
Bốn bề biết không ?...

Bùi Thụy Đào Nguyên

Chủ Nhật, 27 tháng 6, 2010

Từ Long Hồ dinh đến thành Vĩnh Long



Dinh Long Hồ hay Long Hồ dinh (chữ Hán chính thể: 龍湖營) là một địa danh cũ ở miền Nam vào thời chúa Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

1. Nguyên nhân thành lập:
Do điều kiện lịch sử và địa lý, công cuộc mở rộng lãnh thổ về phương Nam vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các chúa Nguyễn.

Bởi vậy, tiếp tục đường lối của cha ông, sau khi lực lượng Prea Sot (Sá Tốt) [1] từ Chân Lạp kéo sang quấy nhiễu ở Sài Gòn bị đánh đuổi, chúa Nguyễn Phúc Chú (hay Trú, ở ngôi: 1725-1738) liền sai đặt sở Điều khiển ở Sài Gòn, đồng thời lập châu Định Viễn, dựng dinh (doanh) Long Hồ, để cai quản hai vùng đất mới là Peam Mesar (Mỹ Tho) và Longhôr (Vĩnh Long) do vua Chân Lạp là Sâtha (Nặc Tha) vừa dâng để cầu hòa sau vụ Prea Sot. Sử nhà Nguyễn chép:

Năm Nhâm Tý thứ 7 (1732), ngài (Nguyễn Phúc Chú), thấy đất Gia Định (lúc bấy giờ chỉ toàn Nam Kỳ) rộng rãi quá, bèn sai các quan chia đất ấy đặt châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ [2].

2. Trở thành một dinh trấn quan trọng:
Buổi đầu, trị sở dinh Long Hồ đặt ở thôn An Bình Đông, thuộc xứ Cái Bè nên còn gọi là dinh Cái Bè (lỵ sở châu Định Viễn cũng đặt tại đây, nay thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Các chức vụ đầu dinh có lưu thủ, cai bạ và ký lục trông coi việc quân sự, hành chính và thuế vụ cho cả một miền đất rộng lớn [3].

Năm Mậu Ngọ (1738), chúa Nguyễn Phúc Khoát nối ngôi, thì năm sau (1739), Long Hồ dinh có thêm bốn huyện nữa do đô đốc Mạc Thiên Tứ đem dâng, đó là: Long Xuyên (vùng Cà Mau), Kiên Giang (vùng Rạch Giá), Trấn Giang (vùng Cần Thơ), Trấn Di (vùng phía Bắc tỉnh Bạc Liêu). Sau đó, chúa Nguyễn đem tất cả những miền đất phương Nam đã mở mang đặt thành ba dinh và một trấn là: Trấn Biên dinh (vùng Biên Hòa), Phiên Trấn dinh (vùng Gia Định), Long Hồ dinh (vùng Vĩnh Long) và Hà Tiên trấn (vùng Hà Tiên).

Năm Ất Hợi (1755), nội bộ vương triều Chân Lạp lại xảy ra việc tranh giành ngôi vị, tham mưu Nguyễn Cư Trinh và thống suất Trương Phúc Du được cử binh đi đánh Nặc Nguyên, lúc bấy giờ đang làm vua xứ ấy. Nặc Nguyên thua trốn sang Hà Tiên, rồi xin dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (nay là vùng Tân An, Gò Công) để chuộc lỗi. Năm Bính Tý (1756), chúa Nguyễn Phúc Khoát cho sáp nhập hai phủ này vào châu Định Viễn, thuộc Long Hồ dinh.

Năm Đinh Sửu (1757), vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng Châu Đốc, Sa Đéc bây giờ) để tạ ơn chúa Nguyễn, vì đã điều động tướng Trương Phúc Du lấy lại ngôi vị cho mình. Chúa Nguyễn lại sai đem đất ấy sáp nhập vào Long Hồ dinh.

Cũng ngay năm này, theo đề nghị của ký lục dinh Long Hồ là Nguyễn Cư Trinh và thống suất Trương Phước Du, chúa Nguyễn thuận cho dời trị sở dinh Long Hồ và châu Định Viễn về xứ Tầm Bào thuộc địa phận Long Hồ thôn (tức vùng chợ Vĩnh Long ngày nay). Cử Tống Phước Hiệp làm lưu thủ, đồng thời chúa Nguyễn còn cho lập ba đạo để hỗ trợ việc coi giữ đó là: Đông Khẩu (ở phía Nam Sa Đéc), Tân Châu (ở đầu Cù lao Giêng, không phải tại thị trấn Tân Châu ngày nay) và Châu Đốc.

Đến lúc ấy, Long Hồ dinh là một dinh trấn quan trọng ở phía Nam xứ Đàng Trong, và trung tâm đầu não của nó có trách nhiệm cai quản cả một vùng đất rộng lớn.
Đề cập đến vai trò này, nhà văn Sơn Nam viết:
Kiểm soát sông Tiền, sông Hậu là vấn đề mà các chúa Nguyễn luôn quan tâm, nhất về mặt quân sự và về canh tác. Muốn dùng binh lên Cao Miên, phải cho chiến thuyền đi ngược sông Tiền để đến Nam Vang. Và đây còn là cuộc đất lý tưởng "sông sâu nước chảy" với những bờ đất phù sa cao ráo, rất thuận lợi cho việc trồng trọt...
Dinh Long Hồ kiểm soát được hai con sông lớn ấy. Đồng thời dinh này còn bao trùm luôn vùng biển vịnh Xiêm La với Long Xuyên đạo (Cà Mau), Kiên Giang đạo (Rạch Giá), chỉ trừ vùng Ba Thắc (Sóc Trăng) nơi người Miên sống quá tập trung thì việc cai trị vẫn thuộc về họ [4].

Tháng 11 (âm lịch) năm Kỷ Hợi (1779), chúa Nguyễn Phúc Ánh duyệt lại bản đồ các dinh trong Gia Định, rồi cho dời thủ phủ Long Hồ dinh đến cù lao Hoằng Trấn ở giữa sông Hậu.
Sách Quốc triều Chính biên toát yếu chép:
Tháng 11 (âm lịch) năm Kỷ Hợi (1779), đổi dinh Long Hồ làm Hoằng Trấn, lãnh việc coi châu Định Viễn và ba tổng là Bình An, Bình Dương và Tân An [5].
Tuy nhiên, chỉ mới năm sau (Canh Tý, [1780]), thì lại cho lui về nơi cũ. Trịnh Hoài Đức giải thích:
Năm Kỷ Hợi (1779), đổi tên gọi là dinh Hoằng Trấn, lỵ sở ở chỗ ngày nay tục gọi là bãi Bà Lúa. Năm Canh Tý (1780), vì nghĩ rằng khi nước Cao Miên hữu sự, ở xa khó bề chế ứng nên phải đem lỵ sở trở lại đất thôn Long Hồ...[6]

Năm 1779, trên giấy tờ, địa danh Long Hồ dinh xem như không còn tồn tại nữa. Kể từ đó, Long Hồ dinh xưa lần lượt trải qua các tên gọi khác và địa phận cai quản của nó cũng bị thu hẹp dần:
-Năm 1779-1804: gọi là Hoằng Trấn dinh. Tuy nhiên, vẫn có người gọi theo tên cũ là Long Hồ dinh.
-Năm 1804-1808 gọi là Trấn Vĩnh dinh (hay Vĩnh Trấn dinh) [7].
-Tháng giêng năm 1808 [8]-1832 gọi là Vĩnh Thanh trấn.
-Năm Nhâm Thìn (1832), vua Minh Mạng chia Nam Kỳ thành lục tỉnh [9], thì Vĩnh Thanh trấn trở thành Vĩnh Long tỉnh cai quản 4 phủ, 8 huyện, 47 tổng.

Hiện nay, địa danh Long Hồ còn là tên của một con sông (sông Long Hồ) chảy qua một địa phận cùng tên đó là huyện Long Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long.

3.Hoàn thành vai trò lịch sử:
Theo Đại Nam nhất thống chí, thì đất Tầm Bào (nơi đặt trị sở Long Hồ dinh ở Vĩnh Long) là một vùng đất màu mỡ do phù sa con sông Cổ Chiên bồi đắp, sông có nước đục nhưng ngọt quanh năm, rất thuận tiện việc trồng tỉa, chăn nuôi và sinh hoạt của cư dân...

Nhờ vậy, địa phận Long Hồ thôn, nhanh chóng trở thành một trung tâm quan trọng về nhiều mặt suốt một thời gian dài. Trong một bài viết của Hà Ngọc Trảng trên báo Vĩnh Long (ngày 29 tháng 4 năm 2009) có đoạn:
Năm 1732, Long Hồ dinh ra đời định vị một cuộc đất quan trọng đối với phương Nam về mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa... Và trong suốt 277 năm đồng hành cùng những biến cố thăng trầm của lịch sử, Long Hồ dinh–Vĩnh Long đã hoàn thành xuất sắc vai trò sứ mạng lịch sử của mình.

Đặc biệt về mặt quân sự, ngoài những trận đối đầu ác liệt giữa quân chúa Nguyễn và quân Tây Sơn, sử cũ còn ghi lại nhiều trận giao chiến dữ dội giữa quân Việt với quân Xiêm và quân Chân Lạp ở những vùng đất mà Long Hồ dinh cai quản, và lần nào trị sở Long Hồ dinh ở Vĩnh Long cũng đều đảm nhận vai trò là đại bản doanh, là đầu não của quân đội Việt ở phía cực Nam.

Mãi đến thời thực dân Pháp sang xâm lược Việt Nam, vai trò này vẫn tiếp tục tồn tại mặc dù tên dinh trấn đã khác. Và nó chỉ thật sự chấm dứt kể từ khi lão thần nhà Nguyễn là Phan Thanh Giản tuẫn tiết và quân Pháp chiếm trọn Nam Kỳ năm 1867.



Thành Vĩnh Long hay thành Long Hồ ở Vĩnh Long, được xây dựng dưới triều Nguyễn, là thành trì và là trị sở chi phối về quân sự-kinh tế-văn hóa cả khu vực miền Tây Nam Kỳ thời bấy giờ. Tòa thành từng bị quân Pháp đánh phá hai lần: năm 1862 và 1867. Đến lần thứ hai, thì toàn thể Nam Kỳ cũng dần mất hết về tay Pháp. Đây là nơi lưu dấu của vương triều chúa Nguyễn-nhà Nguyễn và cũng là nơi chứng kiến sự bất lực và cái chết của lão thần Phan Thanh Giản, vì đã không thể hoàn thành được trọng trách của mình.

1. Tổng quan:
Thành Vĩnh Long xưa tọa lạc trên một gò đất cao (nay gần như đã phẳng) ở tại giao lộ 19 tháng 8 và đường Hoàng Thái Hiếu, thuộc phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Thành trì của dinh Long Hồ thời chúa Nguyễn không có thông tin, vì sử sách không biên chép và cũng không còn lưu lại dấu tích gì.
Thành Vĩnh Long thời nhà Nguyễn, nhờ Trịnh Hoài Đức mà biết được như sau:
Ngày 22 tháng 2 niên hiệu Gia Long thứ 12 (Quý Dậu, 1813), đắp thành trì, dựng công thự trên đất hai ấp Bình An và Trường Xuân thuộc thôn Long Hồ (nay thuộc Phường 1, thành phố Vĩnh Long). Đây là vùng có dãy sông lớn ôm quanh, giữ thế quan yếu, đúng là phên giậu vững vàng của thành Gia Định, khống chế Cao Miên, hai con sông lớn (sông Tiền và sông Hậu) chẹn chỗ hiểm yếu, giao thông đường thủy hết sức tiện lợi, ruộng vườn cũng rất tốt tươi...(phần Trấn Vĩnh Thanh)

Theo các nhà nghiên cứu, thì người lãnh trọng trách xây thành là khâm mạng trấn thủ Lưu Phước Tường. Thành đắp bằng đất, kiểu Vauban (kiểu kiến trúc thành lũy Tây Âu ở thế kỷ 17-thế kỷ 18), cửa chính hướng Đông Nam, lưng quay hướng Tây Bắc. Chu vi thành rộng 750 trượng, cao 1 trượng dày 2,5 trượng. Quanh thành có hào rộng, sông sâu.

Thành có 4 cửa hình vòm cong: cửa Tả nhìn ra sông Long Hồ, cửa Hữu nhìn ra rạch Ngư Câu (rạch Cái Cá), cửa Tiền nhìn ra đường Cầu Lầu, cửa Hậu nhìn ra sông Cổ Chiên (một nhánh lớn của sông Tiền). Bốn góc thành tạo thành hình hoa mai.

Trong thành, có 2 con đường dọc, 3 con đường ngang, có các công thự như: hành cung, nhà thừa ty, kho lương, trại lính...Phía Đông thành có quan lộ chạy dọc sông Long Hồ, phía trái là nhà Sứ Quán, phía phải là chợ Vĩnh Thanh (tức chợ Vĩnh Long ngày nay). Ở góc Nam của thành, có xưởng Thủy sư (xưởng đóng tàu chiến). Bên kia Cầu Lầu có xóm Lò Rèn chuyên làm đồ binh khí cho quân lính. Ngoài ra ở quanh thành còn có đàn Xã Tắc, đàn Tiên Nông và miếu Văn Thánh.

Để yểm trợ tòa thành này khi có biến, viên trấn thủ còn cho dựng lên ở giữa Cầu Lầu một trạm gác (bốn phía có lỗ châu mai) và hai đồn nhỏ: một ở phía Đông bãi Tiên và một ở Vàm Tuần.

Nhìn chung, thành Vĩnh Long tuy không rộng nhưng được xây dựng kiên cố, bố phòng chặt chẽ, thuận tiện đường tiến thủ.

Trong thời kỳ quân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, thành Vĩnh Long thất thủ hai lần: năm Nhâm Tuất (1862) và năm Đinh Mão (1867). Sau khi thành Vĩnh Long thất thủ lần thứ hai, quân Pháp đã phá tan tất cả đồn lũy và san bằng tòa thành, chỉ duy nhất còn lại một cây da và một ngôi miếu nhỏ ở cửa Hữu. Vào thập niên 50, cây da này bị lụi tàn. Sau đó, từ thân cây mẹ, mọc lên cây đa con và phát triển tươi tốt cho đến ngày nay.

Năm 2000 di tích Cây Da Cửa Hữu được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa. Trải qua thời gian dài, vì nhiều nguyên nhân, di tích đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Sau khi phục hồi (ngôi cổ miếu) & tôn tạo (cửa Hữu, nhà bia tưởng niệm), lễ khánh thành đã được tổ chức vào chiều 28 tháng 4 năm 2008.

2. Thơ cảm hoài:
Năm 1862, thành Vĩnh Long thất thủ lần đầu, tiếp theo là Hiệp ước Nhâm Tuất ra đời, danh sĩ Phan Văn Trị đã làm một bài thơ như sau:

Thất tỉnh Vĩnh Long
Tò te kèn thổi tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai, dạ xót xa.
Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói,
Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa.
Tan nhà cám nỗi câu ly hận,
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ,
Ngậm cười hết nói nỗi quan ta.

Bùi Thụy Đào Nguyên, biên soạn

Chú thích:
[1] Có sách ghi người cầm đầu tên là Sà Tốt. Nhưng theo các biên niên sử Chân Lạp thì đây chỉ là một di dân Lào ở làng Prea Sot (Sà Tốt) mà thôi (ghi chú của Nguyễn Đình Đầu trong Địa chí Thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, tr. 159).
[2] Trong Le Cisbassac, Trương Vĩnh Ký cho rằng Long Hồ từ tiếng Khmer (lõn hòr) mà ra. Tuy nhiên Vương Hồng Sển vẫn còn ngờ khi viết rằng: "Có lẽ đây là Miên gọi theo ta?" (Tự vị tiếng nói Miền Nam. Nhà xuất bản Trẻ, 1999, tr. 413). Trong Gia Định thành thông chí (phần Trấn Vĩnh Thanh), tên sông Long Hồ được Trịnh Hoài Đức giải thích như sau: "Sông này chảy đến quanh co, chảy đi vòng vèo, dòng ngang uốn lượn, nước đọng trong ngần, bốn mùa ngon ngọt; cồn cát cao thấp xa gần, thôn xóm la liệt khắp đông tây ẩn hiện như rừng, như động, như vực, như đầm, nên mới gọi là Long Hồ (Hồ Rồng)". Tin theo đây, thì tên đất (Long Hồ) có nguồn gốc từ tên sông.
[3] Quốc triều sử toát yếu (Chính biên, tr. 46). Dinh Cái Bè là vùng đất rộng nằm hai bên bờ sông Tiền, nhưng vì mới khai phá nên chỉ lập một châu là Định Viễn, chưa lập phủ huyện.
[4] Sơn Nam, trang 37 và tr. 39.
[5]Thông tin thêm: "Đồng thời đạo Trường Đồn (tức Mỹ Tho và Cao Lãnh, được lập năm 1753) là chỗ đất quan yếu trong ba dinh, cho nên đặt dinh Trường Đồn" (Quốc triều Chính biên toát yếu, tr. 27).
[6] Gia Định thành thông chí (phần Trấn Vĩnh Thanh). Ở đây, Trịnh Hoài Đức viết thêm là: "trở lại đất thôn Long Hồ đổi tên là dinh Vĩnh Trấn". Nhưng theo sử Nguyễn vừa ghi bên trên và một vài sách khác, thì Long Hồ dinh đổi tên là Hoằng Trấn dinh, đến năm 1804 mới "chính thức" đổi tên là Vĩnh Trấn dinh. Tìm hiểu sự sai biệt này, thấy trong "Vĩnh Long xưa" của Huỳnh Minh có đoạn: "Thực ra, Nguyễn Phúc Ánh đã đặt tên Vĩnh Trấn dinh từ năm 1788, sau khi thu phục thành Gia Định. Nhưng bấy giờ hãy còn bận chinh chiến, việc cải tổ chưa thể dứt khoát (tr. 20).
[7] Trấn Vĩnh dinh là chép theo sử Nguyễn. Huỳnh Minh và một số tác giả khác ghi là Vĩnh Trấn dinh.
[8] Chép theo Quốc triều Chính biên toát yếu (tr. 96). Thông tin trên Website tỉnh Vĩnh Long ghi 1806 là không chính xác.
[9] Lục tỉnh gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Theo Nguyễn Q. Thắng, nhà Nguyễn đặt tên lục tỉnh dựa theo sau chữ cuối của một câu thơ cổ: Khoái mã gia biên vĩnh định an hà, nghĩa: Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước (Trịnh Hoài Đức, một trong Gia Định tam gia, in trong sách Nam Bộ xưa và nay, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr.147). Tuy nhiên, theo sách An Giang xưa và nay thì địa danh An Giang đã có từ 1779 đời chúa Nguyễn Phúc Ánh (tác giả: Người Long Xuyên, phát hành trước 1975, tr. 10), cho nên thông tin trên cần tra cứu thêm.

Tài liệu tham khảo chính:
-Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên). Nhà xuất bản Văn Học, 2002.
-Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam. Nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1994.
-Huỳnh Minh, Vĩnh Long xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên in lại năm 2002.

Ảnh từ trên xuống:
1. Cửa Hữu thành Long Hồ (phục dựng để kỷ niệm)
2. Một đoạn sông Long Hồ chảy qua lỵ sở Long Hồ dinh, tức thành phố Vĩnh Long ngày nay.
3. Cây Da Cửa Hữu cùng một miếu thờ, di tích duy nhất còn lại của thành Vĩnh Long xưa.
4. Một mảnh vỡ của khẩu đại bác cùng hai viên đạn thời Nguyễn đang được thờ tại Công Thần Miếu Vĩnh Long.

Ảnh và bài của Bùi Thụy Đào Nguyên.

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2010

Cuộc nổi dậy của Lâm Sâm tại Trà Vinh năm 1841

Cuộc nổi dậy của Lâm Sâm tại Trà Vinh năm 1841

Cuộc nổi dậy của Lâm Sâm là một cuộc nổi dậy chống lại nhà Nguyễn thời vua Thiệu Trị xảy ra ở phủ Lạc Hóa (nay là tỉnh Trà Vinh, Việt Nam) do Lâm Sâm (hay Sa Sâm, không rõ năm sinh năm mất) [1] làm thủ lĩnh, khởi phát từ tháng 3 âm lịch đến tháng 10 âm lịch năm Tân Sửu (1841), thì bị đánh tan.

I. Nguyên nhân xa & gần:
Từ lâu, các vua chúa Việt Nam luôn lo lắng về các vùng có tộc người Khmer định cư tập trung và lâu đời ở Nam Bộ.
Bởi đây là vùng đất mới đối với người Việt, cho nên khi chúa Nguyễn Ánh còn ở đất Gia Định, đã cho phép người Khmer ở địa phương lập đồn điền, và mỗi năm chỉ phải nạp lúa thuế mà thôi.

Đến khi nối ngôi vua, năm 1835, vua Minh Mạng cũng đã cho tộc người này hưởng chế độ tự trị rộng rãi, với quan phủ và các quan lại khác coi việc nội an đều là người Khmer.

Tuy nhiên, trong sâu xa các nhà cầm quyền vẫn muốn người Khmer trên đất Nam Bộ qui thuận theo mình, vì lẽ đó, lệnh trên ban ra có khi thiếu nhất quán và không phù hợp, mà chính sách “nhứt thị đồng nhơn” là một ví dụ.

Hậu quả là, nhân cơ hội quan quân nhà Nguyễn ở Chân Lạp đang vấp phải sự chống đối mãnh mẽ của người bản xứ (vì đã đem nước họ sáp nhập vào Đại Nam), mà tộc người Khmer ở Nam Bộ đã lần lượt đứng lên (trong số đó có cuộc nổi dậy của Lâm Sâm), gây nhiều tang thương mất mát.

Nhìn lại vấn đề này, nhà văn Sơn Nam đã chỉ ra mấy nguyên nhân chủ yếu như sau:
Vua Minh Mạng mất, để lại gánh nặng ở phía biên giới Việt-Miên. Loạn lạc đã phát khởi ngay từ khi cuộc chinh phạt của tướng Trương Minh Giảng đang diễn ra tại phía Biển Hồ, tuy rằng về hình thức là dẹp xong nhưng mầm mống còn đó. Người Miên cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam dường như sẵn sàng hưởng ứng, chống đối quan lại địa phương khi ở Cao Miên phong trào lên cao. Quân Xiêm lại khéo phao tin tuyên truyền. Người Cao Miên lúc bấy giờ ở Nam Kỳ lại bực dọc với chính sách “nhứt thị đồng nhơn” của vua Minh Mạng, bắt buộc họ phải lấy tên, lấy họ như người Việt để đồng hóa. Lại còn chủ trương cải cách tổ chức nông thôn cổ truyền của sóc Miên khiến họ mất quyền tự trị [2].

Còn Nguyễn Phan Quang, thì nhấn mạnh đến tệ tham lam của quan lại và địa chủ, giáo sư viết:
Do bất bình với chính sách “đồn điền” của triều Nguyễn, vì nó đã tạo ra cơ hội cho quan lại cùng địa chủ đổ xô đến Lạc Hóa, Ba Xuyên...chiếm đoạt ruộng đất. Bên cạnh đó, việc thay đổi phong tục tập quán địa phương và âm mưu gây chia rẽ giữa các thành phần dân tộc cũng đã góp phần làm nên nhiều cuộc nổi dậy [3].

II. Diễn biến:
Trước ngày 1 tháng 8 năm 1932, phủ Lạc Hóa gồm 2 huyện là Tuân Nghĩa và huyện Trà Vinh, trực thuộc trấn Vĩnh Long. Sau ngày này, vua Minh Mạng bỏ trấn và chia Nam Kỳ thành 6 tỉnh trực thuộc triều đình Huế, và hai huyện trên vẫn thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long như cũ (cho đến khi thực dân Pháp chiếm lấy toàn cõi Nam Kỳ).

Theo Đại Nam nhất thống chí, thì lúc bấy giờ “trên hai bờ rạch Trà Vinh, người Kinh người Thổ ở lẫn lộn, thuyền buôn tụ họp, cũng là một nơi đô hội ở vùng biển” [4].

Rồi chính những nguyên nhân trên, mà nơi đô hội ấy không còn, bởi người dân Khmer (cùng một số người Việt và người Hoa[5]) ở phủ Lạc Hóa đã tin theo lời của Lâm Sâm để cầm vũ khí chống Nguyễn.

Theo Sơn Nam, thì thủ đoạn xách động (của Lâm Sâm) là dùng bùa ngãi, do các tên thầy bùa đưa ra rồi loan tin thất thiệt: "Ai không theo chúng sẽ bị Trời Phật hại, ai theo thì được cứu thoát, nên có lúc loạn quân lên đến bảy, tám ngàn. Ngoài Lâm Sum, còn có tên tổng Cộng (chắc là cai tổng tên Cộng) và một tên tự xưng là phò mã Đội. Còn võ khí là đao mác, chà gạc, phãng kéo cổ thẳng (sau trở thành cây mã tấu)...[6]

2.1 Đánh phá phủ Lạc Hóa, chiếm giữ huyện Trà Vinh:
Đầu tháng 3 âm lịch (1841), Lâm Sâm khởi binh. Đầu tiên, ông cầm quân tiến đánh phủ lỵ Lạc Hóa, binh lính chống đỡ không nổi, viên Tri phủ bỏ chạy, cấp báo về tỉnh. Bố chánh Trần Tuyên trực tiếp cầm quân ứng cứu, từ Vĩnh Long kéo đến đồn Nguyệt Lãng [7] vừa tiến vừa thăm dò, ngót 20 ngày mới tới sóc Lò Ngò[8], liền bị hơn ngàn quân nổi dậy kéo ra ngăn lại.

Bố Chánh Trần Tuyên bí mật thu quân về sóc Ô Đùng [9], thì bị nổi dậy phục kích ở vùng Trà Tử (nay gọi là Hiếu Tử), giết chết ông cùng viên Tri huyện Trà Vinh là Huỳnh Hữu Quang [10].

Nhân đà thắng lợi, Lâm Sâm thúc quân đến vây đánh tấn [11] Định An, chém chết viên Thủ ngự rồi nhanh chóng rút lui.

Tháng 4 âm lịch (1841), tức một tháng sau ngày khởi binh, Lâm Sum lại dẫn hơn 300 quân đến vây đánh đồn Nguyệt Lãng và nhiều đồn trại của quân triều đình trên bờ sông Trà Vinh. Đồng thời, cử người chỉ huy 2000 quân kéo lên chiếm giữ Giồng Sang [12], ngăn đường tiến của quân triều đình theo sông Cổ Chiên vào cứu viện. Kể từ đó, lực lượng nổi dậy kể như hoàn toàn làm chủ huyện lỵ Trà Vinh.

Nhận được tin cấp báo, vua Thiệu Trị liền triệu Tham tán thành Trấn Tây là Nguyễn Tiến Lâm từ Nam Vang về nước, để nắm quyền tổng chỉ huy cuộc trấn áp. Ngoài ra, nhà vua còn điều thêm hai tướng là Nguyễn Công Trứ (về nước cùng với Nguyễn Tiến Lâm), Nguyễn Tri Phương và Tổng đốc Bùi Công Huyên cùng tiếp tay. Khi tướng Trương Minh Giảng rút quân từ Chân Lạp về An Giang, lại có thêm 3.000 quân nữa[13], vậy mà theo Bản Triều Bạn Nghịch, thì: tuy phá tan được luôn, nhưng chỗ này tan rã thì chỗ kia qui tụ lại, cứ đánh phía Đông, giữ phía Tây không thể nào diệt hết được...[14]

Để đối phó lại đạo quân triều hùng mạnh ấy, Lâm Sâm cử thuộc cấp là Trần Hồng mang vài ngàn quân đến đánh phá vùng sóc Kỷ La [15] để bày thế trận nhằm phối hợp và chi viện lẫn nhau.

Sau trận này, liệu thế khó chống giữ, hai ông nhanh chóng rút hết quân về củng cố các căn cứ ở vùng Trà Cú, Xoài Xiêm thuộc huyện Tuân Nghĩa, sau khi chiếm giữ huyện lỵ Trà Vinh suốt trong 4 tháng (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1841).

2.2 Trận Xoài Xiêm & Rum-Đuôn:
Cuối tháng 6, quân nổi dậy tựa vào chỗ hiểm để chống giữ, rồi lừa cho đại quân lọt vào trận địa phục kích, gây tổn thất nặng cho quân triều.

Đến tháng 8, Lâm Sâm cho di chuyển quân về lập căn cứ ở Chrui-Ton-Xa thuộc Ba Xao[16], gần sông lớn để có thể tiến thoái, lại có thể phối hợp với hai cuộc nổi dậy ở Ba Xuyên (Sóc Trăng) do thủ lĩnh Sơn Tốt và thủ lĩnh Trần Lâm đứng đầu.

Lại thấy khó có thể cầm cự lâu dài ở Ba Xao, Lâm Sâm lại quyết định rút lực lượng về Rum-Đuôn (tức Sâm Đô chép trong Đại Nam thực lục) cố giữ lũy dàn quân chống lại. Mấy đạo quân triều ồ ạt kéo vào vây chặt khu vực. Lâm Sâm bố trí trận mai phục bên hồ nước Trơpăn-Krôpư (bàu cá sấu), gây thêm một số tổn thất cho quân triều, giết chết một viên Phó quản cơ và một cai đội. Nhưng khi mấy đạo quân triều chia đánh mấy mặt thì lực lượng nổi dậy mất dần sức và nhanh chóng tan rã, căn cứ bị phá hủy. Lúc ấy là vào tháng 10 âm lịch năm Tân Sửu (1841).

III. Kết thúc:
Theo một nguồn tư liệu của địa phương, sau khi thất trận ở Rum-Đuôn, thủ lĩnh Lâm Sâm chạy sang cù lao Cồn Cộc ẩn náu một thời gian. Khi quân triều rút đi, ông trở về Trà Cú thì bị bắt cùng với người con trai tên là Lâm Tham khoảng đầu năm 1842 [17].

Rút lại, ở nửa đầu thế kỷ 19, cuộc nổi dậy ở Lạc Hóa là một trong vài cuộc nổi dậy lớn, tuy ngắn ngủi nhưng nó có tính chất điển hình. Và mặc dù quyết liệt, nhưng nó vẫn thất bại, vì đây cũng chỉ là một cuộc nổi dậy mang đậm tính địa phương riêng rẽ, giá trị thu hút của nó không lớn. Về phía nhà Nguyễn, nhờ có lực lượng quân sự đông đảo nên cuối cùng cũng đàn áp được, nhưng xét ra cách làm này vẫn không thể làm dịu bớt những mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội.

Cuộc nổi dậy ở Lạc Hóa, thực sự là lời cảnh báo của một bộ phận cư dân không nhỏ ở Nam Bộ đối với nền thống trị của triều Nguyễn, trong đó có chính sách đối với người dân tộc.

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.

Chú thích:
[1] Lâm Sâm hay Sa Sâm, gọi theo cách của người Kinh. Người Khmer gọi ông là Xà Na Xom, hoặc Xà Xôm (tức viên tướng tên Xom). Còn trong tài liệu của Pháp thì ghi ông là Dô Sâm. Hiện nay, chưa rõ quê quán ông ở đâu, có thuyết nói Ba Xuyên (Sóc Trăng), có thuyết nói Tây Ninh.
[2] Nhà văn Sơn Nam giải thích thêm: Chánh sách của vua Minh Mạng đối với người Miên (luôn cả người Lào, người Mường...) là "nhứt thị đồng nhơn" (xem tất cả cùng là người), nghe qua thì như là dân chủ, nhưng thực chất là muốn bắt buộc các sắc dân phải theo luân lý, theo cách tổ chức thôn xóm, cúng tế của Việt Nam và Tàu, lại buộc họ phải lấy họ, như họ Sơn, Thạch, Kim, Kiên...(Lịch sử khẩn hoang miền Nam, tr. 85). Còn GS. Văn Tạo gọi đây là một “âm mưu đồng hóa" (xem chi tiết trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử: Chuyên đề về nhà Nguyễn, số 271, 1993, tr. 2-5). Trong Monographie de la province de Tra Vinh [Sài Gòn, 1905], một tác giả người Pháp cũng đã viết rằng: Người Việt và người Khmer sống thuận hòa với nhau trong một thời gian dài. Nhưng từ đời Minh Mạng (1820), triều Nguyễn ép người Khmer bỏ phong tục, tập quán của mình để theo luật An Nam, và đó là nguyên nhân chính của hàng loạt cuộc nổi dậy đẫm máu, làm rối loạn cả vùng. (Nguyễn Phan Quang dẫn lại, tr. 152).
[3] Việt Nam thế kỷ 19, tr. 152 và 156.
[4] Nguyễn Phan Quang dẫn lại, tr. 152.
[5] Sơn Nam cho biết trong đám loạn quân đầu thú, có cả người Việt và người Tàu. Phải chăng là những người trước kia theo Lê Văn Khôi nay trốn tránh? (Lịch sử khẩn hoang miền Nam, tr.90)
[6] Lịch sử khẩn hoang miền Nam, tr. 89.
[7] Vị trí đồn Nguyệt Lãng, nay thuộc xã Bình Phú huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh. Hiện còn tên ấp Nguyệt Lãng nằm trên đường Vĩnh Long-Trà Vinh, cách thị xã Trà Vinh khoảng 13 km.
[8] Lò Ngò (Đại Nam thực lục chép là Lò Ngâu) phiên âm từ tiếng Khmer “Choòng Ngò” (choòng: ở cuối, ngò: cong), có nghĩa là giồng đất ở cuối con rạch có hình cong. Lò Ngò, nay thuộc xã Hiếu Tử, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
[9] Ô Đùng giáp với Lò Ngò. Tiếng Khmer là Phô Đôhm (Đại Nam thực lục chép là Nô Động). Hiện nay vẫn còn sóc Ô Đùng, nghĩa là giồng đất có nhiều cây dừa.
[10] Đại Nam thực lục (tập 23, tr. 201) chép: Ấn triện và bài ngà (của hai ông) đều bị bọn giặc cướp cả
[11] Tấn: từ dùng để gọi đồn lính canh phòng nơi cửa sông hay cửa biển.
[12] Giồng Sang là giồng đất ở Bãi Sang, nằm sát mé sông Cổ Chiên, trên đường đi qua xã Bình Phú, cách thị xã Trà Vinh khoảng 7 km.
[13] Các sách dùng để tham khảo đều không ghi con số quân Nguyễn tham dự cuộc trấn áp.
[14] Kiều Mậu Oánh, Bản Triều Bạn Nghịch Liệt Truyện. Bộ Quốc Gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa cho dịch và ấn hành (Sài Gòn, 1963, tr. 85).
[15] Kỷ La tức Ỷ La chép trong Đại Nam thực lục, nay thuộc xã Vĩnh Lợi Thượng, cách thị xã Trà Vinh khoảng 9 km.
[16] Ba Xao, tức Bãi Sao chép theo Đại Nam thực lục. Hiện còn ấp Bãi Sao ở huyện Trà Cú (Trà Vinh).
[17] Chép theo Việt Nam thế kỷ 19 (tr. 155). Các sách dùng để tham khảo đều không cho biết sau khi bị bắt, số phận cha con Lâm Sâm như thế nào.

Sách tham khảo chính:
-Quốc sử quán (triều Nguyễn), Đại Nam thực lục (Tiền biên và Chính biên). Nxb Sử học và Nxb KHXH, Hà Nội, 1962-1972.
-Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng nói Miền Nam. Nxb Trẻ TP. HCM, 1999.
-Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam. Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1994
-Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ 19. Nxb Tp. HCM, 2002.
-Nhiều tác giả, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập I). Nxb Giáo dục, 2007.

Xem thêm (cùng một người soạn):
-Cuộc nổi dậy ở Ba Xuyên năm 1941
-Cuộc nổi dậy ở Thất Sơn
Cuộc nổi dậy chống Nguyễn ở Ba Xuyên năm 1841

Cuộc nổi dậy ở Ba Xuyên năm 1841, là một cuộc nổi dậy chống lại nhà Nguyễn thời vua Thiệu Trị, xảy ra trên địa bàn phủ Ba Xuyên lúc bấy giờ (nay là tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam), do hai thủ lĩnh là Sơn Tốt và Trần Lâm cùng chỉ huy, khởi phát từ tháng 3 năm Tân Sửu (1841) đến khoảng đầu năm sau (1842) thì bị đánh tan.

I. Thông tin mở đầu:
1.1 Địa bàn cuộc nổi dậy:
Theo Đại Nam nhất thống chí, thì phủ Ba Xuyên, cách tỉnh thành An Giang 264 dặm về phía Đông Nam, nguyên là đất Ba Thắc, sau lập thành phủ An Biên. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), đổi tên là phủ Ba Xuyên.

Trong di cảo của học giả Trương Vĩnh Ký còn cho biết rằng: Sóc Trăng tức Srock Khleang, phiên theo cách gọi Khmer, và có nghĩa là kho báu, kho bạc.

Sóc Trăng thời Minh Mạng được gọi là Nguyệt Giang, do ép chữ “Sóc” thành “sông”, “trăng” thành “nguyệt”; nhưng sau đó lại đổi tên thành Ba Xuyên khi thành lập phủ vào năm 1835. Khi ấy, phủ Ba Xuyên gồm 3 tổng (sau đổi thành huyện): Vĩnh Định, Phong Nhiêu và Phong Thạnh. Năm 1889 Pháp nâng phủ thành tỉnh lấy tên cũ là Sóc Trăng.

1.2 Thủ lĩnh cuộc nổi dậy:
-Sơn Tốt (?-1841), người Khmer, nguyên là một thổ mục ở phủ Ba Xuyên thời Nguyễn, từng giữ chức Quản cơ trong quân đội triều đình. Theo Ban dân tộc ở hai tỉnh là Sóc Trăng và Kiên Giang, thì Sơn Tốt rất có thể là Sna-Tea (Sơn Nam phiên âm là Xa-ne Tia), một nhân vật được chép trong tài liệu của nhà chùa và được nhắc đến trong các truyền thuyết ở địa phương.
-Trần Lâm (Srok Lim?, sinh:?-mất: 1842), người Khmer, nguyên là Tri phủ Ba Xuyên.
Hiện nay chưa có thông tin chi tiết về hai ông.

II. Nguyên nhân:
Bất bình với chính sách “đồn điền” của triều Nguyễn, vì nó đã tạo ra cơ hội cho quan lại cùng địa chủ đổ xô đến Ba Xuyên, Lạc Hóa...chiếm đoạt ruộng đất [1]. Bên cạnh đó, chủ trương nhằm thay đổi phong tục tập quán cùng việc cải cách tổ chức tổ chức nông thôn của tộc người Khmer ở Nam Bộ, khiến họ mất quyền tự trị.
Đề cập đến vấn đề này, nhà văn Sơn Nam, viết:

Chánh sách của vua Minh Mạng đối với người Miên (luôn cả người Lào, người Mường...) là "nhứt thị đồng nhơn" (xem tất cả cùng là người), nghe qua thì như là dân chủ, nhưng thực chất là muốn bắt buộc các sắc dân phải theo luân lý, theo cách tổ chức thôn xóm, cúng tế của Việt Nam và Tàu, lại buộc họ phải lấy họ, như họ Sơn, Thạch, Kim, Kiên...[2]

Bực dọc âm ỉ cho đến đầu năm 1841, thì tộc người Khmer ở nhiều nơi lần lượt nổi lên chống Nguyễn (trong số đó có cuộc nổi dậy ở Ba Xuyên), bởi lúc bấy giờ vua Thiệu Trị vừa nối ngôi, loạn lạc trong nước chưa yên, còn ở Trấn Tây thành (Chân Lạp) thì quan quân nhà Nguyễn đang bị người bản xứ chống đối mãnh mẽ...

III. Diễn biến:
Tháng 3 năm Tân Sửu (1841), Sơn Tốt đem lực lượng của mình đã chiêu tập được hiệp với lực lượng của thủ lĩnh Trần Lâm, bởi cả hai có chung một địa bàn (Ba Xuyên) và chung một mục đích chống Nguyễn. Ngoài ra, Sơn Tốt còn cho liên kết với cuộc nổi dậy của Lâm Sâm ở phủ Lạc Hóa (Trà Vinh) nhằm hỗ trợ và chia sức quân triều.

3.1 Trận phủ thành Ba Xuyên:
Khởi đầu, Sơn Tốt và Trần Lâm chia lực lượng ra làm hai, một cánh bao vây phủ thành Ba Xuyên [3], một cánh kéo lên phía Bắc đánh phá huyện thành Vĩnh Định (ở xã Tân An, thành phố Cần Thơ hiện nay).

Hốt hoảng, viên Tri huyện Vĩnh Định trốn chạy, đồng thời cấp báo lên cấp trên ở tỉnh Vĩnh Long. Tổng đốc Long Tường (Vĩnh Long & Định Tường) Dương Văn Phong thân đem quân đến cứu, chiếm lại được huyện lỵ Vĩnh Định, rồi tiến luôn đến Bãi Xàu, để giải vây cho phủ thành Ba Xuyên. Ở phía ngoài phủ thành Ba Xuyên, một trận đánh quyết liệt đã diễn ra, làm thủ lĩnh Sơn Tốt chết ngay tại trận.

Tuy giải phóng được phủ thành Ba Xuyên, nhưng lực lượng của Trần Lâm vẫn còn đóng giữ khu vực chợ Bãi Xàu. Để đánh bật đối phương ra khỏi nơi ấy, Tổng đốc Phong cho quân theo đường thủy và đường bộ đánh thẳng vào chợ Bãi Xàu, phá vỡ được thế chống cự của quân nổi dậy, thu hết các thứ tích trữ, đốt hết các đồn bảo, bắt được nhiều thuyền bè và khí giới.

Bị đánh thua, Trần Lâm cho phân tán quân ra rút khỏi chợ Bãi Xàu, rồi chia nhau đóng ở các xứ Mã Tộc, Sóc Trăng (tên khu vực trùng tên tỉnh) và Trà Tâm.

Nhận được tin đội quân của Trần Tâm và của Lâm Sâm vẫn đang khẩn trương đào hào đắp lũy, tính kế kháng cự lâu dài với quân triều đình, vua Thiệu Trị vội vàng cho triệu Tham tán thành Trấn Tây là Nguyễn Tiến Lâm (Sơn Nam ghi là Nguyễn Tấn Lâm) từ Nam Vang về nước, để nắm quyền tổng chỉ huy cuộc trấn áp. Ngoài ra, nhà vua còn điều thêm hai tướng nữa là Nguyễn Công Trứ (về nước cùng với Nguyễn Tiến Lâm), Nguyễn Tri Phương cùng tiếp tay. Đến khi tướng Trương Minh Giảng rút quân từ Chân Lạp về An Giang, lại có thêm 3.000 quân nữa cùng tham gia cuộc trấn áp.

3.2 Trận Mã Tộc:
Khoảng cuối mùa xuân năm 1841, Trần Lâm vẫn còn trong tay hơn 6000 quân. Ngán ngại trước sức mạnh này, Tổng đốc Phong viện cớ ốm (đau chân), để giao quyền chỉ huy lại cho Lãnh binh Nguyễn Duy Tráng.

Lãnh binh Tráng bèn dẫn ba đạo quân tiến đến xứ Mã Tộc. Sách Đại Nam thực lục kể lại đại để như sau:

Quân nổi dậy giả vờ tổ chức tiệc rượu, chờ cho quân triều tới nơi thì bỏ chạy tán loạn. Quân triều tưởng rằng đối phương bị đánh bất ngờ nên chạy trốn, bèn tranh nhau công vào tiệc rượu, ngả cờ, buông khí giới ngồi xuống ăn uống. Tức thì quân Trần Lâm quay trở lại đánh úp, làm tan rã đạo hậu quân. Hai đạo trung và tiền nghe tin, liền hốt hoảng vất cả khí giới mà chạy.
Thời may, cánh quân cứu viện do Phó lãnh binh Mai Văn Đổng đến kịp, đuổi được quân nổi dậy ra khỏi đồn, nhưng viên lãnh binh này không dám xua quân truy đuổi vì lý do "đường đi có quá nhiều sông ngòi chằng chịt, không tiện đuổi theo đến cùng". Sau trận này, phía quân triều chết hai Phó vệ úy, một Phó quản cơ và 5 Phó cơ (trong số đó có một Phó vệ úy Cẩm y vệ và một viên Phó cơ đều bị giết chết ngay tại bàn tiệc). Về vũ khí, quân triều mất 14 súng lớn cùng rất nhiều binh khí và đạn dược
[4].

3.3 Trận Sóc Trăng & Nhu Gia:
Tuy gây nhiều thiệt hại cho quân triều, nhưng quân nổi dậy phải bỏ căn cứ Mã Tộc mà chạy về Sóc Trăng và Nhu Gia, là hai nơi hiểm yếu, làm thêm rào chắn, đấp thêm lũy đất và cảng ngăn sông.

Nghe do thám báo về đường bộ và đường thủy dẫn đến hai căn cứ đều bị nghẽn, Tổng đốc Dương Văn Phong càng thêm lo, bèn lấy cớ chân chưa được khỏe, để sai các thuộc cấp của mình đem quân thủy bộ tiến đánh.

Không đợi quân triều tới nơi, ở Sóc Trăng, thủ lĩnh Trần Sâm cứ một toán quân nhỏ ra kiêu khích rồi giả vờ bỏ chạy. Sợ mắc mưu như ở trận Mã Tộc, quan quân lụt tục kéo về, nhưng đến nửa đường thì bị quân nổi dậy mai phục ở hai bên bờ sông xông ra đánh thọc sườn, phải tháo chạy hết về phủ thành Ba Xuyên.

Tương tự, ở Nhu Gia quân triều cũng bị phục binh mà tan tan cả. Quân nổi dậy đã lấy nhiều giáo nhọn phóng bừa ra làm cho Phó lãnh binh Mai Văn Đổng, hai Phó vệ úy và hai Phó cơ chết ngay tại trận, binh lính ngã xuống sông chết đuối cũng nhiều, lại bị mất khẩu súng quá sơn lớn bằng đồng và khí giới các hạng .

3.4 Trận Trà Tâm:
Cũng thời gian này, một cánh quân do Hòe Ất (vốn là thuộc cấp của Sơn Tốt) chỉ huy từ vùng sông Ô Môn (nay là quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ) kéo về đóng ở Trà Tâm [5].

Hy vọng không đánh mà có thể thắng được, tướng Nguyễn Tri Phương bèn cho người đi chiêu hàng. Nhưng chờ mãi không thấy quân nổi dậy buông khí giới, mà chỉ thấy đối phương tiếp tục bố trí trận địa phòng ngự, tướng Phương bèn chia quân ra làm ba mũi cùng tiến về Trà Tâm.

Trước lực lượng đông đảo và hùng hổ này, Hòa Ất không cho quân ra đối mặt, mà chỉ cho mai phục, rồi đánh tạt ngang sườn đạo hậu quân, giết chết tại trận một viên Phó vệ úy, một viên Phó cơ. Còn súng lớn súng nhỏ, khí giới và nghi trượng bị bỏ mất khá nhiều.

3.5 Kết thúc:
Khoảng cuối tháng 9 âm lịch năm Tân Sửu (1841), thủ lĩnh Trần Sâm lại tập hợp được ngót 5000 quân. Cùng thời gian này, tình hình trên đất Chân Lạp rất tồi tệ, buộc vua Thiệu Trị phải ra lệnh cho tướng Trương Minh Giảng lặng lẽ rút quân về nước. Nhưng khi đến nơi thì viên tướng này mất vì bệnh (nhưng lý do chính là vì buồn giận triều đình. [lời của Sơn Nam]). Không bỏ lỡ cơ hội, quân Xiêm mở ngay cuộc xâm lăng vào lãnh thổ nước Việt.

Vừa lo thù trong, giặc ngoài, vừa nóng lòng vì không phá tan được quân nổi dậy, tướng tổng chỉ huy cuộc đàn áp là Tham tán Nguyễn Tiến Lâm, gấp rút dốc hết lực lượng, chia làm ba mũi, tiến đến giồng Cổ Lũy (có lẽ ở Mã Tộc) rồi cùng đánh khép lại.

Tháng 10, quân triều đánh tan được lực lượng của Lâm Sâm ở Rum-Đuôn, làm cho lực lượng của Trần Lâm bị cô lập, bị đàn áp dữ dội, và rồi suy yếu nhanh chóng. Sang đầu năm 1842, trong một trận đánh ở gần Sóc trăng, thủ lĩnh Trần Lâm bị giết tại mặt trận. Từ lúc đó, cuộc nổi dậy ở Ba Xuyên kể như kết thúc.

Nhìn chung, giống như các nổi dậy ở Lạc Hóa (Trà Vinh), Hà Tiên và vùng Thất Sơn (An Giang), cuộc nổi dậy ở Ba Xuyên năm 1841 vẫn có một kết cục thảm hại, vì quân đội lúc này hãy còn mạnh và vì đây cũng chỉ là một cuộc nổi dậy mang đậm tính địa phương riêng rẽ, giá trị thu hút của nó cũng không lớn. Nhưng điểm đáng chú ý ở đây là, người đứng đầu cuộc nổi dậy vốn là quan chức ở địa phương, và thuộc tộc người Khmer.

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn

Xem thêm (cùng một người soạn):
-Cuộc nổi dậy Lâm Sâm
-Cuộc nổi dậy ở Thất Sơn

Chú thích:

[1] Tệ nạn tham nhũng lúc bấy giờ là mầm mống của nhiều cuộc nổi dậy. Nhà sử học Phạm Văn Sơn, viết: không thể không quy trách nhiệm cho Ngài (Minh Mạng) về các vụ loạn ly đã xảy ra ở Bắc Hà, Nam Hà và Chân Lạp do quan lại tham nhũng gây nên, đáng lẽ ở những miền xa xôi này nhà vua phải lựa đặt những cán bộ ưu tú, biết lấy ân làm uy, khéo léo vỗ về dân chúng, bởi từ lâu họ đã thiếu cảm tình với tân triều (Việt sử toàn thư, bản điện tử, tr. 425).
[2] Lịch sử khẩn hoang miền Nam (tr. 85). GS. Văn Tạo gọi đây là “âm mưu đồng hóa (Xem chi tiết trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử: Chuyên đề về nhà Nguyễn, số 271, 1993, tr. 2-5).
[3] Trước đây, các nhà sử học (trong số đó có GS, Quang) đều cho rằng vào năm 1835, phủ lỵ Ba Xuyên đặt tại thôn Hòa Mỹ, tổng Phong Nhiêu. Thành đắp bằng đất từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), ở phía tây chợ Hòa Mỹ, tức chợ Bãi Xàu. Nhưng trong một bài viết vào năm 1972, tác giả Vũ Văn Tỉnh lại cho rằng phủ lỵ đặt tại Vàm Ba, tức nơi cửa sông Ba Xuyên, còn gọi là Vàm Tấn (Đại Ngãi). Xem “Những thay đổi địa lý hành chánh các tỉnh phía Nam trong thời kỳ Pháp thuộc”, in trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 146 (trang 28-40). Tuy nhiên, từ năm 1972 cho đến nay, vẫn chưa thấy ngành chức năng có ý kiến, nên ở đây vẫn ghi theo GS. Quang, tức công nhận phủ lỵ Ba Xuyên đặt tại thôn Hòa Mỹ.
[4] Lược theo Đại Nam thực lục, tập 23 (tr. 157) và tập 24 (tr. 148)
[5] Nhà văn Sơn Nam ghi chú: Trà Tâm, phải chăng vùng vùng Phú Tâm, nằm trên đường Sóc Trăng đi Bạc Liêu, hoặc Tà Tâm tức sân bay Sóc Trăng ngày nay (trước năm 1975). Sách ghi ở mục tham khảo, tr. 90.

Sách tham khảo:
-Quốc sử quán (triều Nguyễn), Đại Nam thực lục (Tiền biên và Chính biên). Nxb Sử học và Nxb KHXH, Hà Nội, 1962-1972.
-Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam . Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1994.
-Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ 19 (1802-1884). Nxb Tp. HCM, 2002.
-Nguyễn Phan Quang, Lịch sử Việt Nam (1427-1858), quyển 2, tập 2. Nxb Giáo dục, 1977.
-Nhiều người soạn, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập I). Nxb Giáo dục, 2007.

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Danh tướng Ngô Tam Quế và mỹ nhân Trần Viên Viên


Danh tướng Ngô Tam Quế và mỹ nhân Trần Viên Viên

I. Ngô Tam Quế (吳三桂), sinh năm 1612, là Tổng binh cuối triều Minh, sau đầu hàng và trở thành cộng sự của nhà Thanh.

Trước đây, Ngô Tam Quế từng dưới quyền của Viên Sùng Hoán (1584-1630), sau khi viên tướng này bị vua nhà Minh là Sùng Trinh giết chết, Ngô Tam Quế dần dần được trao nhiệm vụ trấn giữ Sơn Hải Quan (nay thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc).

Khoảng thời gian này, các nhóm khởi nghĩa chống lại nhà Minh đã dần lớn mạnh, trong số ấy có lực lượng của Lý Tự Thành. Sau những thắng lợi liên tiếp, Lý Tự Thành lên ngôi Hoàng đế ởTây An (Thiểm Tây), và rồi đánh chiếm luôn Bắc Kinh vào ngày 26 tháng 5 năm 1644.

Trong khi đó, viên Tổng binh nhà Minh là Ngô Tam Quế, chỉ huy 10 vạn quân đang đóng ở Sơn Hải Quan. Nhiệm vụ của lực lượng này vốn là để phòng ngự sự xâm nhập của quân Thanh, nhưng khi nghe Bắc Kinh bị huy hiếp, Ngô Tam Quế liền dẫn binh về cứu. Dọc đường, nghe tin kinh đô đã thất thủ, vua Minh (Sùng Trinh Hoàng đế) đã chết, lại nghe Lý Tự Thành dụ dỗ, nên Ngô Tam Quế đã định hàng. Nhưng khi hay ái thiếp của mình là Trần Viên Viên bị Tự Thành chiếm đoạt, họ Ngô liền nổi giận, đến xin hợp với quân nhà Thanh do Đa Nhĩ Cổn chỉ huy.

Lý Tự Thành đem quân đánh Ngô Tam Quế, nhưng bị liên quân Ngô Tam Quế và Mãn Thanh đánh bại, do đó phải rút khỏi Bắc Kinh sau 43 ngày đêm làm chủ chốn đế đô này. Kể từ đó, nhà Thanh chính thức làm chủ được Trung Quốc.

Khi nhà Minh ở Bắc Kinh đã bị lật đổ, các quan lại ở Nam Kinh bèn tôn một người trong hoàng tộc là Phúc Vương lên làm vua, lập nên nhà Nam Minh... Tuy nhiên, trước sự tấn công mạnh mẽ của quân Thanh, vị vua cuối cùng của Nam Minh là Quế Vương (Chu Do Lang) phải chạy sang Miến Điện. Ngô Tam Quế đem quân truy kích buộc vua Miến Điện phải giao Quế Vương, rồi đưa về Côn Minh (thủ phủ của tỉnh Vân Nam) treo cổ, triều Nam Minh diệt vong (1661).

Khi mới thành lập, triều Thanh đã phong vương cho một số tướng lĩnh Hán tộc có công, trong số đó có Thượng Khả Hỉ (được phong là Bình Nam vương, trấn thủ Quảng Đông), Cánh Kế Mậu (được phong là Tĩnh Nam vương, trấn thủ Phúc Kiến), Ngô Tam Quế (được phong là Bình Tây vương, trấn thủ Vân Nam)...
Ba lãnh địa đó, gọi chung là “Tam phiên”, và trong ba phiên ấy, mạnh nhất là thế lực của Ngô Tam Quế. Sau xét thấy, sự tồn tại của những lãnh địa này, không có lợi cho nền thống trị của nhà Thanh, vì vậy năm 1673, vua Khang Hi đã ra lệnh bãi bỏ các phiên.
Bị mất quyền lợi, ngay năm ấy, Bình Tây vương Ngô Tam Quế nổi dậy chống lại nhà Thanh và hô hào hai phiên kia cùng phối hợp. Phong trào này buổi đầu đã lôi cuốn được sự hưởng ứng của nhiều địa phương trong cả nước, như Trịnh Kinh từ Đài Loan cũng đem quân qua tấn công vùng ven biển hai tỉnh Chiết Giang và Phúc Kiến. Tuy nhiên, vì các lực lượng chống Thanh không có hành động thống nhất, nên ít năm sau thì bị dẹp tan. Năm 1676, hai phiên họ Cánh và họ Thượng đã đầu hàng.

Trong tình thế rất khó khăn, năm 1678, Ngô Tam Quế vẫn xưng làm Hoàng đế, nhưng chỉ được 5 tháng thì chết. Hôm đó, là ngày 2 tháng 10 năm 1678, thọ 66 tuổi.

Cháu của ông là Ngô Thế Phiên nối ngôi, nhưng thế lực đã rất suy yếu. Năm 1681, quân nhà Thanh tấn công và chiếm được Vân Nam, Thế Phiên phải tự tử. Như vậy, cuộc nổi dậy của “Tam phiên” đến đây thì bị dập tắt.

Trích một đoạn trong sách Sử Trung Quốc của học giả Nguyễn Hiến Lê, để thay lời nhận xét:

"Ngô Tam Quế được lịnh về cứu kinh đô từ mười ngày trước, vẫn chùng chình, tiến binh rất chậm, có lẽ vì còn tính xem có nên nhận đề nghị chia chác sau đó của Lý Tự Thành không. Khi Tư Tôn (tức Sùng Trinh Hoàng đế) tuẫn quốc, thì Quế mới tiến được có nữa đường tới Bắc Kinh. Hay tin, hắn quay trở về liền để chờ xem tình thế ra sao.
Lý Tự Thành đã thành công một cách dễ dàng...Duy có Ngô Tam Quế là có thể gây rối cho ông. Ông nhờ cha của Quế (lúc đó đã theo ông) làm trung gian để điều đình với Quế. Nhưng Quế vẫn không quyết định gì cả, có lẽ muốn đợi Lý Tự Thành trả cho mình một ái thiếp bị một tướng của Tự Thành bắt. Đồng thời Quế cũng thương thuyết với quân Thanh, nhờ quân Thanh giúp khi cần. Tự Thành hay tin đó tặng Quế 40.000 lạng (bạc?), Quế vẫn làm thinh.
Bực mình, Tự Thành phái hai tướng đem 20.000 quân tấn công Quế. Nhưng đáng lẽ phải cấp tốc đánh Tam Quế trước khi quân Thanh can thiệp, thì họ lại kéo dài ra. Tự Thành phải đích thân đem 200.000 quân đánh Quế ở gần Sơn Hải Quan, khi vây Quế ba mặt rồi, quân Quế sắp bị tiêu diệt thì quân Thanh tới cứu Quế. Tự Thành thua, rút lui, đề nghị chia giang sơn với Quế; Quế không chịu, Tự Thành giết cha Quế rồi vội vàng về Bắc Kinh (vì quân địch theo bén gót) vơ vét vàng bạc, châu báu chất lên xe, đưa về phía Tây, đốt cung điện rồi cùng với quân đội rút lui...
Quế hy vọng đuổi đưọc Tự Thành rồi, nhường cho nhà Thanh một số quyền lợi nào đó thì họ sẽ lui về Mãn Châu. Không dè viên phụ chính (Đa Nhĩ Cổn), chú vua Thanh bảo chưa lập được trật tự nên không về, lại sai Quế đem quân Thanh đuổi theo Lý Tự Thành tới Thiểm Tây. Trong khi đó, vua Thanh mới 7 tuổi được chú (tức viên phụ chính) đưa vào Bắc Kinh, đặt lên ngai vàng.
Quế hay tin như người mất hồn, suốt ngày đóng cửa không tiếp ai, rất rầu rĩ. Hắn tiếc vì mất ái thiếp, lại mất ngôi vua hay chức Tể tướng. Hắn ân hận vì để cho cha bị giết và mang tội phản quốc"...(Sử Trung Quốc, tập 2, tr.163-164).

II. Trần Viên Viên (陳園園, gọi tắt là Viên Viên, không rõ năm sinh năm mất), là một mỹ nhân thời Minh mạt-Thanh sơ trong lịch sử Trung Quốc.

Trần Viên Viên (gọi tắt là Viên Viên), xuất thân từ một gia đình lao động nghèo, đến Tô Châu làm kỹ nữ, và tài năng cùng nhan sắc của nàng đã được rất nhiều người hâm mộ.

Khi ấy, vua Minh là Sùng Trinh đang sủng ái Điền Quý phi, làm cho Chu hoàng hậu rất ghen tức. Biết chuyện, cha của Chu hoàng hậu đến kỹ viện bỏ tiền ra mua Viên Viên, để đưa vào cung phục vụ nhà vua. Kề cận được Viên Viên, vua Sùng Trinh cứ ở mãi trong cung không muốn ra thiết triều.

Khoảng thời gian này, các nhóm khởi nghĩa chống lại nhà Minh đã dần lớn mạnh, trong số ấy có lực lượng của Lý Tự Thành. Sau khi hay tin quân nổi dậy đánh lấy ba thành trì lớn, cộng thêm lời can gián của các quan, vua Sùng Trinh mới cho nàng ra ở trong phủ Chu quốc trượng.

Trong một bữa tiệc tại phủ, Chu quốc trượng cho Viên Viên ra múa hát, và nhan sắc cùng tài năng của nàng đã lọt vào mắt xanh của Ngô Tam Quế. Và khi viên võ quan này được cử ra trấn thủ Sơn Hải Quan (nay thuộc tỉnh Hà Bắc), để ngăn chặn quân Mãn Châu, thì vua Sùng Trinh đã ban Viên Viên cho ông [1]. Sau đó, Viên Viên cũng được họ Ngô sủng ái, tuy nhiên, nàng không theo ra trận, mà vẫn ở lại Bắc Kinh.

Ngày 26 tháng 5 năm 1644, lực lượng của Lý Tự Thành (tự xưng là Sấm vương) vào chiếm lấy Bắc Kinh, lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Đại Thuận. Vua Sùng Trinh bỏ chạy rồi tự vẫn ở Môi Sơn. Quân nổi dậy bắt được Viên Viên, đem nạp cho Lý Tự Thành.
Tiếp theo, Ngô Tam Quế đánh bại Lý Tự Thành và diệt luôn nhà Nam Minh ở Nam Kinh, nên được nhà Thanh phong là Tây Bình vương, cho trấn thủ ở Vân Nam.

Theo Vũ Đức Sao Biển, thì sau khi Lý Tự Thành bị đánh đuổi, Ngô Tam Quế đã xum họp với Viên Viên. Nhưng khi nghe tin sắp được phong vương, Ngô Tam Quế không dám đưa tên Viên Viên ra trình với Thuận Trị Hoàng đế vì nguồn gốc xuất thân của nàng. Họ Ngô phải cưới vợ khác và bố trí Viên Viên ra tu tại một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô thành Côn Minh (tức thủ phủ của Vân Nam).

Trích lời bàn của Vũ Đức Sao Biển:
"Cuộc đời của Trần Viên Viên đúng là bi kịch của nhan sắc: hết làm trò chơi cho các danh sĩ và nhà hào phú đất Tô Châu; nàng lần lượt trở thành trò chơi cho Sùng Trinh Hoàng đế, Sấm vương Lý Tự Thành rồi Bình Tây vương Ngô Tam Quế. Cuộc chiến giữa Ngô Tam Quế và Lý Tự Thành tại Nhất Phiến Thạch làm chết cả vạn người, bị dư luận lịch sử Trung Quốc trút lên đầu của Trần Viên Viên. Chỉ có một người thông cảm với kiếp hồng nhan, đã làm một bài thơ để giãi bày hộ Trần Viên Viên. Đó là danh sĩ Ngô Vĩ Nghiệp [2] với "Viên Viên khúc"...
Và với một bút pháp kể chuyện có xen mô tả khá tinh tế, nhà văn Kim Dung đã xây dựng một Trần Viên Viên trở thành đệ nhất đại mỹ nhân trong hàng ngàn nhân vật nữ trong tiểu thuyết của mình. Những Tiểu Long Nữ, Nhậm Doanh Doanh, Triệu Mẫn, Tiểu Siêu, Hân Tố Tố, Viên Tử Y, Vương Ngữ Yên... cũng là những đại mỹ nhân nhưng là đại mỹ nhân ở tuổi 18-20. Họ không thể sánh bằng Trần Viên Viên ở tuổi 40 tươi đẹp, chân tình, trí tuệ, tài hoa và đau khổ! (trích trong "Kim Dung giữa đời tôi", tập 2, chương 7, tr. 70)

Trích "Viên Viên khúc" (bản dịch):
...Mệt vì tăm tiếng lẫy lừng,
Rước mời, biếu xén tưng bừng đua nhau
Một hộc châu, vạn hộc sầu,
Quan sơn phiêu bạt dãi dầu mình ve.
Cuồng phong hoa rụng thảm thê,
Vô biên xuân sắc biết về nơi nao.
...
Đường thơm nay cảnh đìu hiu,
Chim kêu khắc khoải, sân rêu xanh rì.
Dời cung, thay áo sầu bi,
Lời ca điệu múa nhớ về Lương Châu.
Khúc Ngô chớ hát thêm sầu,
Ngày đêm sông Hán dạt dào về Đông. [3]

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.

Chú thích:
1.Có nguồn ghi hơi khác: Viên Viên được vào hoàng cung để hầu hạ vua Sùng Trinh, nhưng chỉ được 3 ngày, bà bị Chu hoàng hậu đưa ra khỏi cung. Sau được Chu quốc trượng (cha của Chu hoàng hậu) gã cho Ngô Tam Quế.
2. Ngô Vĩ Nghiệp (吳偉業, 1609-1672), tự là Tuấn Ông, hiệu là Mai Thôn, quê ở Thái Thương (nay thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc). Ông đỗ Tiến sĩ năm Sùng Trinh thứ tư (1631), ra làm quan với nhà Minh một thời gian. Khi quân Thanh chiếm Trung Quốc, ông về ẩn cư ở quê nhà. Năm Thuận Trị thứ 10 (1653), ông buộc phải tuân chiếu chỉ ra làm quan với nhà Thanh, giữ chức "Quốc tử Tế tửu" (tức Hiệu Trưởng trường Quốc Tử Giám); ba năm sau thì từ quan. Ngô Vĩ Nghiệp là nhà thơ nổi tiếng, đồng thời cũng giỏi cả từ, khúc và hội họa.
3. Xem toàn văn Viên Viên khúc ở đây. [http://www.hoasontrang.us/phorum/showthread.php?t=3337]

Tài liệu tham khảo:
-Phan Khoang, Trung Quốc sử lược. Văn sử địa xuất bản tại Sài Gòn năm 1970.
-Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc (tập 2). Nxb Văn hóa, 1997.
-Nhiều người soạn, Lịch sử thế giới trung đại. Nxb Giáo dục, 2003.
-Vũ Đức Sao Biển, Kim Dung giữa đời tôi (tập 2, chương 7). Nxb Đồng Nai, 1997.

Ảnh trên: Tượng Viên Viên tại Côn Minh

Án văn tự đời Thanh

Án văn tự đời Thanh

Đời nhà Thanh (1644-1911), đã xảy ra hai vụ án lớn có liên quan đến văn tự, làm liên lụy nhiều người, đó là vụ án Minh Sử và vụ án Điềm kiềm ký văn.

I. Vụ án Minh Sử:
Vụ án Minh Sử hay Vụ án văn tự đầu đời Thanh, xảy ra ở khu vực Hàng Châu, Chiết Giang, kéo dài từ năm đầu năm 1662 cho đến năm 1663, dưới thời vua Khang Hi, nhà Thanh ởTrung Quốc.

Thời đầu nhà Thanh, để duy trì được quyền lực, nhà cầm quyền đã áp dụng một chính sách độc tài, nặng về trấn áp và trừng trị. Hai biến động quan trọng nhất mang tính chất răn đe, đó là là vụ Thuế ở Giang Nam (1661) và vụ án Minh Sử.
GS. Phan Khoang, viết:
Nhà Thanh biết rằng người Trung Quốc ắt phản kháng họ, mà nếu có phản kháng thì do các phần tử trí thức lãnh đạo. Vì vậy đối với giới này, họ dùng nhiều thủ đoạn mà một trong số đó là việc mở rộng nhà lao mà đời gọi là ngục văn tự để trấn áp sĩ khí. Có thể nói rằng bấy giờ người Trung Quốc không có tự do ngôn luận...[1]
1.1 Diễn biến:
Tuy lời kể trong mỗi sách có khác nhau một vài chi tiết, nhưng đại để sự việc xảy ra như sau:
Vào cuối đời Minh, Chu Quốc Trinh (1557-1632), đỗ Tiến sĩ năm 1589, làm quan tới chức Thượng thư bộ Lễ kiêm Nội các đại học sĩ rồi thăng Tướng quốc (Thủ Phụ), nhưng vì không theo phe đảng của hoạn quan Ngụy Trung Hiền nên từ quan về ở Nam Tầm tỉnh Chiết Giang.
Họ Chu đã dày công soạn thảo một bộ sử về thời Minh trong đó có nhiều phần khác nhau: Hoàng Minh Đại Sử Ký, Hoàng Minh Đại Chính Ký, Hoàng Minh Đại Huấn Ký và đã được lần lượt in ra. Riêng bộ sau cùng Minh Lịch Triều Chư Thần Truyện chưa soạn xong thì ông mất. Gia cảnh ngày càng xuống dốc nên con cháu phải đem bộ bản thảo dở dang của ông bán cho một phú gia ở Nam Tầm là Trang Duẫn Thành.
Trang Duẫn Thành có một người con trai trưởng tên là Trang Đình Long, đỗ sinh viên, nhưng sau đó mắt bị lòa. Sau khi nghe đọc bộ bản thảo trên, Trang Đình Long đã cho mời nhiều nho sĩ đất Giang Nam như Mao Nguyên Minh, Phan Sanh Chương, Ngô Viêm...tổng cộng mười tám người đến tiếp tay để tu chỉnh và tăng bổ mấy tháng mới làm xong sách.
Bộ sách này có tên mới là Minh Sử Kỷ Lược, nhưng chưa kịp xuất bản thì Trang Đình Long mất vào khoảng đầu năm 1660.
Thể theo ước nguyện của con, cuối năm đó, Trang Duẫn Thành cho người khắc in sách. Nhưng trước khi phát hành, một bản đã gửi về bộ Lễ để xin phép vào tháng Giêng năm 1661, và đã được phê là "không có gì đáng ngại". Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau khi sách được phổ biến rộng rãi, thì bị các quan lại địa phương moi móc ra những điều “cấm kỵ” để vòi vĩnh tiền bạc của Trang Duẫn Thành, trong số đó có Ngô Chi Vinh, làm quan huyện Qui An, vừa bị bãi chức vì tội tham nhũng.
Điều cấm kỵ đó là những vị đầu của nhà Thanh chẳng hạn như Đa Nhĩ Cổn lại không được gọi là Nhiếp Chính Vương mà vẫn dùng tên riêng, niên hiệu trong sách cũng sử dụng niên hiệu triều Minh. Chê trách sử quan nhà Minh là Thượng Khả Hỉ, Cảnh Thân Minh và những tướng lãnh nhà Minh là Khổng Hữu Đức, Cảnh Tinh Trung, là những kẻ đầu hàng v.v...
Mặc dù sau đó Trang Duẫn Thành đã nghe lời viên đề lại ở phủ Tùng Khôi tướng quân là Trình Duy Phiên, nhờ người sửa chữa gắp rồi khẩn cho in lại và đồng thời cho thu hồi tất cả bản in lần đầu, nhưng Ngô Chi Vinh vẫn cố tình tìm ra và đem dâng bản in cũ để lập công.
Mượn cớ này, đầu năm 1662, Ngao Bái (một Tứ mệnh đại thần) cử hai khâm sai từ Bắc Kinh xuống Hàng Châu và Chiết Giang, đem theo mấy trăm binh sĩ, bắt giam hết những người có liên quan để tra xét.
Theo lời kể của các tác giả, thì ngay sau đó toàn gia họ Trang bị giải về kinh. Trang Doãn Thành ở trong ngục chịu đánh đập không nổi nên đã tự sát trong ngục. Trang Đình Long chết rồi cũng bị quật mồ lên chịu tội phanh thây. Cả nhà họ Trang mấy chục người, từ mười lăm tuổi trở lên đều bị xử trảm, vợ con thì bị đày đi Phiên Dương, hoặc làm nô tì cho các kỳ binh Mãn Châu.
Tiền Lễ bộ thị lang Lý Lệnh Triết là người đề tựa sách thì bị xử lăng trì, bốn người con đều bị xử trảm. Hàng Châu tướng quân Tùng Khôi, Tuần phủ Chiết Giang Chu Xương Tô, Án sát Lý Hoán, Huấn đạo Triệu Trinh Đồng, Học chính Hồ Thượng Hành, Đề đốc Lương Hóa Phong, Thủ đạo Trương Võ Liệt, v.v...tùy theo tội nặng nhẹ mà bị giam hoặc bị giết chết.
Hai Huấn đạo mới ở huyện Quy An bị quy tội "biết việc mà che giấu", "xử lý công việc tuỳ tiện", nên đều bị xử tội treo cổ chết, trong đó Đàm Hy Mẫn mới làm quan được 3 tháng, Vương Triệu Trinh chỉ mới được chưa đầy nửa tháng.
Đề lại Trình Duy Phiên phủ vì tội bày mưu và bao che bị xử lăng trì giữa chợ. Còn nhóm thợ khắc chữ như Dương Đạt Phổ, Lý Tường Phổ; người bán sách như Vương Vân Giao, Lục Đức Nho; những người mua và giấu sách như Tô Châu Thủy, Lý Thượng Bạch...cũng đều bị xử chém.
Trước đây khi đến xin tiền, Ngô Chi Vinh bị Chu Hựu Minh đuổi đi; nhân dịp này, Chi Vinh cũng đã cung khai với pháp ty phụ trách vụ án rằng cuốn sách có ghi rõ chiếu theo “Chu thị nguyên cảo thêm bớt nhuận sắc mà thành”. Chi Vinh còn tán thêm là cái tên Chu Hựu Minh, hiển nhiên lòng vẫn còn tưởng nhớ đến nhà Minh, vì thế mà Hựu Minh cùng năm đứa con trai đều bị chết chém.
Ngô Chi Vinh có công tố cáo nên được hưởng một nửa gia tài lớn của nhà họ Trang và Chu, ngoài ra còn ông được phục hồi quan chức, rồi làm đến Hữu thiên Đô Ngự sử. Năm Khang Hy thứ 4 (1665) Ngô Chi Vinh đột nhiên mắc phải một loại bệnh lạ, toàn thân cứ lở loét ra mà chết.
Năm 1663, vụ án kết thúc, sau khi đã giết chết cả thảy 72 người, và số người bị phát vãng nơi biên thùy đến hơn 100 [2].
1.2 Hậu quả:
Biểu hiện tập trung của chính sách tàn bạo và khủng bố dân tộc của nhà cầm quyền Mãn Thanh là các vụ: Mười ngày thảm sát Dương Châu, Ba lần làm cỏ gia định [3] và vụ án Minh Sử...
Hậu quả, giống như các vụ án văn tự xảy ra đầu đời Minh, là trong vòng tám mươi năm, một lượng lớn những tác phẩm tầm thường vô vị, tô son điểm phấn cho giai cấp thống trị, cho giai cấp địa chủ ra đời. Tuy nhiên, điểm khác nhau là vào thời kỳ này cũng đã có được một số tác phẩm phản ánh cuộc sống nghèo khổ của nông dân và phản đối sự bức hại chủng tộc, như:Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, Thủy hử hậu truyện của Trần Thẩm, Thuyết nhạc toàn truyện của Tiền Thái, Trường sinh điện của Hồng Thăng, Mạc Lăng Xuân của Ngô Vĩ Nghiệp, thơ ca của Cố Viêm Võ, Khuất Đại Quân...[4]
Theo học giả Nguyễn Hiến Lê, nhờ đầu đời Thanh, có những vua như Khanh Hi, Càn Long, vừa giỏi võ bị, vừa trọng văn hóa. Họ khôn khéo hơn các vua đầu đời Nguyên. Họ vừa cho mở nhiều khoa thi để thu dùng những kẻ sĩ, vừa cấm lập xã (đoàn thể), lập hội. Kẻ nào có giọng chê bai nhà Thanh, nhất là trong sách vở thì đều bị tử hình, mà vụ án đã làm 70 người bị chết chỉ vì cuốn Minh Sử có phạm đến điều húy kị...là một minh chứng [5].

II. Vụ án Điềm kiềm ký văn:
Đới Danh Thế (1653-1713), một danh sĩ ở Đồng Thành, sau khi đọc xong bộ sách Điềm Kiềm ký văn của Tiến sĩ Phương Hiếu Tiêu (lúc này đã mất), đã phát hiện được một số ghi chép không đúng sự thật và ông quyết tâm tìm thêm sử liệu để khảo đính lại. Nguyên nhân vụ án phát xuất từ ý định đó.
2.1 Phương Hiếu Tiêu và sách Điềm kiềm ký văn:
Phương Hiếu Tiêu (chưa rõ năm sinh, năm mất và quê quán) còn có tên là Phương Huyên Thành, tự là Hiếu Tiêu, lại còn có hiệu là Lâm Cương. Ông thi đỗ Tiến sĩ năm nào chưa rõ, được bổ làm Thị Độc học sĩ.
Năm Thuận Trị thứ 11 (1654), ông lại được cử làm mưu sĩ cho nhà vua, và rất được quí trọng. Năm Thuận Trị thứ 14 (1657), Phương Du là ngườì Đồng Thành được mời làm Chủ khảo kỳthi Hương ở Giang Nam.
Vì tư lợi, Phương Du lấy đỗ bất công, làm cho sĩ tử ở đây vô cùng phẫn nộ. Trong số đỗ có con của Phương Củng Càn là đồng tông với Phương Du, và người em trai thứ 5 của Phương Hiếu Tiêu là Phương Chương Thành.
Không lâu sau, Cấp sự trung âm Ứng Tíết dâng biểu tố cáo Phương Chương Thành thi đỗ là do đút lót. Vua Thuận Trị xem xong vô cùng tức giận bèn cho cách chức Chủ khảo Phương Du và Tiền Khai Tôn cùng toàn bộ các quan coi việc chấm thi. Lại ra lệnh bắt Phương Chương Thành, Phương Củng Càn về kinh tra xét.
Tháng 3 năm Thuận Trị thứ 15 (1658), nhà vua cho sát hạch lại số cử nhân do Phương Du chấm đỗ, rồi công nhận 24 người đủ tư cách, xoá tên 14 người. Không lâu sau với tội danh "mua bán thi cử làm rối kỷ cương", Phương Du và Tiền Khai Tôn bị chém đầu, còn các quan đồng khảo khác đều bị xử treo cổ.
Phương Chương Thành và 8 sĩ tử khác bị phạt đánh 40 gậy trước công đường, bị tịch thu gia sản, cả nhà phải lưu đầy đi Ninh Cổ Tháp. Tiến sĩ Phương Hiếu Tiêu cũng bị lưu đày theo.
Khi Khang Hi lên ngôi ra lệnh đại xá thiên hạ (1662), cha con Phương Hiếu Tiêu mới được cho về quê.
Năm Khang Hi thứ 12 (1673), Phương Hiếu Tiêu đi du ngoạn xuống phía Nam, nhưng đến nơi thì gặp lúc Bình Tây Vương Ngô Tam Quế khởi binh chống lại nhà Thanh ở Vân Nam. Phương Hiếu Tiêu lại bị Ngô Tam Quế bắt giam. Ở trong ngục, Phương Hiếu Tiêu giả bệnh, nhân lúc lính canh không chú ý, ông trốn thoát được.
Lần ngao du này tuy gặp nạn, nhưng ông cũng thu thập được không ít sử liệu về chính quyền nhà Nam Minh. Về nhà, ông viết luôn quyển "Điềm Kiềm ký văn" ghi chép lại tương đối tỉ mỉ việc chính sự của vương triều này.
2.2 Sách chưa xong, họa đã đến:
Biết việc Đới Danh Thế muốn biên tập lại sách “Điềm Kiềm ký văn", học trò của ông là Xa Trạm, tình cờ gặp được một chứng nhân đó là Lê Tri, nên báo lại cho thầy.
Trước đây, Lê Tri từng làm quan trong triều và từng hầu hạ Quế vương Chu Do Lang (1646-1662). Năm Vĩnh Lịch thứ 15 (1661), Quế Vương bị Ngô Tam Quế hại, khiến Lê Tri phải chạy khỏi cung đình, rồi trở thành nhà sư đi khất thực khắp nơi.
Mừng rỡ, nhưng Đới Danh Thế không gặp được Lê Tri vì nhà sư này đã đi xa. Sốt ruột vì công việc của mình bị chậm trễ, Đới Danh Thế viết thư nhờ Xa Trạm chép lại những gì đã nghe được từ Lê Tri rồi gửi đến cho ông.
Không lâu sau, Đới Danh Thế nhận được tài liệu, đem đối chiếu với sách "Điềm Kiềm ký văn" và đã phát hiện có nhiều sự kiện trái ngược nhau, nhưng vì ông không dám quyết nên cũng không thể thêm bớt được gì.
Đới Danh Thế còn có một học trò khác tên là Vưu Vân Ngạc, vì yêu văn bút của thầy, nên đã sao chép được hơn 100 bài văn của Đới Danh Thế.
Năm Khang Hi thứ 41 (1702), Vưu Vân Ngạc thu thập thêm những bản thảo của thầy đế khắc in. Do Đới Danh Thế ở Nam Sơn Cương, bèn lấy tên sách là "Nam Sơn tập ngẫu sao", gọi tắt là "Nam Sơn tập".
Năm Đới Danh Thế 52 tuổi (1705), ông mới bắt đầu đi thi Hương ở phủ Thuận Thiên và đã đỗ đạt. Bốn năm sau, ông lại đi thi Hội và đỗ Đệ nhất danh cống sĩ. Vào thi Đình lại đỗ Giáp đệ nhị danh tức Bảng nhãn và được phong chức Biên tu Hàn Lâm viện.
Lúc đó, con của Tả Đô Ngự sử Triệu Thân Kiều là Triệu Hùng Chiêu lại đỗ Trạng nguyên, mọi người xôn sao bàn tán, cho rằng tài học của Đới Danh Thế trội hơn Triệu Hùng Chiêu, việc Chiêu đỗ trạng chắc là nhờ Tả Đô Ngự sử Triệu Thân Kiều giúp đỡ.
Nghe được, Triệu Thân Kiều liền tìm cách dẹp tin đồn và ngầm tìm cớ triệt bỏ Đới Danh Thế.
Năm Khang Hi thứ 50 (1711), Triệu Thân Kiều dùng quyển "Dữ Dư Sinh thư" trong "Nam Sơn tập" để dâng sớ tố cáo Đới Danh Thế, phạm tội “phóng túng ngông cuồng, bất cẩn, mục đích cuối cùng là tạo nên sách phản và trục lợi”. Khang Hi tiếp biểu xong, giao ngay cho bộ Hình nhanh chóng tra xét.
Thế là hai họ Phương và Đới cùng tất cả những người tham gia in ấn, đề tựa sách "Nam Sơn tập" đều bị bắt giữ. Mấy ngày sau, bộ Hình dâng báo cáo lên nhà vua.
Căn cứ tấu biểu của bộ Hình, vua Khang Hi cho rằng vụ án quá nghiêm trọng, bèn triệu tập Cửu khanh nghị án, đồng thời ra chiếu chỉ rằng: Họ Phương trong vụ án đều là một lũ phản loạn. Phương Quang Thêm đầu hàng theo Ngô Tam Quế làm ngụy tướng, Phương Hiếu Tiêu cũng từng làm sứ giả (thật ra là bị bắt giam) cho Ngô Tam Quế Dòng họ này quyết không thể để lại được.
Căn cứ vào ý chỉ của Vua, Hình bộ thượng thư và Cửu Khanh đồng đưa ra ý kiến: Phương Hiếu Tiêu mắc bệnh cuồng điên, đáng thương đã viết "sách nghịch" lại đến Đới Danh Thế cố tình vận dụng sai thêm rồi cho in ấn phát hành, lưu truyền. Trong sách có nhiều câu chữ ngông cuồng, bất chấp trung hiếu đại nghĩa. Đây là quốc pháp, Phạm vào tội trời đất khó dung phải xét xử trừng phạt nghiêm khắc.
Theo đề nghị của bộ Hình thì phải có hơn 300 người chịu án. Phạt như thế thì quá nặng và phạm vi liên luỵ cũng quá rộng, không có lợi cho việc nhà Thanh đang mua chuộc lòng người.
Sau khi cân nhắc, năm 1713, vua Khang Hi ra quyết định cuối cùng: Xử chém Đới Danh Thế, Lưu đày hai họ Phương, Đới đi Hắc Long Giang, những người như Vưu Vân Ngạc, Phương Bao... bị giam vào Bát kỳ.
Việc xử lần này so với vụ án Minh Sử cách đây 50 năm thì đã rộng lượng hơn nhiều. Đây có thể do những năm cuối đời Khang Hy, việc chính sự và xã hội đã khá ổn định. Trong tình thế như vậy, vương triều nhà Thanh cũng không cần phải giết chóc để thị uy nữa.

Bùi Thụy Đào Nguyên, lược kể.


Chú thích:
1. Phan Khoang, Trung Quốc sử lược (bản in lần thứ 4). Nxb Văn Sử học ấn hành, Sài Gòn, 1970, tr. 357-358.
2. Xem thêm chi tiết vụ án trong Lời Phi Lộ in đầu bộ sách Lộc Đỉnh ký của nhà văn Kim Dung (bản điện tử, có trên internet).
3. Do nhân dân ở hai nơi này phẫn uất, phản kháng mãnh liệt, nên sau khi quân Mãn Thanh phá được thành Dương Châu, họ đã giết 80 vạn người và chém đi chém lại ba lần ở thành Gia Định.
4. Theo Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 3). Sách do nhiều người soạn, Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện KHXH Trung Quốc, Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 3). Bản dịch của Nxb Giáo dục Việt Nam, 1995, tr. 481 và 484.
5. Nguyễn Hiến Lê (Đại cương Văn học sử Trung Quốc. Nxb Trẻ, tr. 621) và Sử Trung Quốc tập 2 (cũng của Nguyễn Hiến Lê. Nxb Văn hóa, 1997, tr. 182).

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2009

Anh hùng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng, sinh năm Canh Thân (1860) tại thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha ông là Mai Xuân Tín, từng làm Bố chính tỉnh Cao Bằng; mẹ là bà Hoàng Thị Nguyệt, con một vọng tộc trong làng.
Thuở nhỏ ông thông minh, ham học. Năm lên 6 tuổi, cha mất sớm, ông lớn lên dưới sự rèn bọc của mẹ và sự dạy dỗ tận tình của cụ tú Lê Duy Cung, cả văn lẫn võ; đến năm Đinh Sửu (1877), thì ông đỗ tú tài.

Tháng 7 năm 1885, đang khi nổ ra cuộc phản công của phe chủ chiến ở Kinh thành Huế, thì ở Bình Định cũng đang diễn ra kỳ thi Hương. Và khi được tin vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống Dụ Cần vương; mấy nghìn sĩ tử đã bỏ thi, trở về quê tụ nghĩa. Ở lại thi tiếp, chỉ còn 8 người và tất cả đều trúng tuyển cử nhân, trong số đó có Mai Xuân Thưởng.

Giữa tháng 7 năm 1885, lực lượng tham gia phong trào Cần Vương ở Bình Định đã đánh chiếm tỉnh thành này, trừng trị viên quan thân Pháp là Tổng đốc Lê Thận, rồi kéo nhau đánh phá các làng theo đạo Thiên Chúa giáo.

Từ Bình Định, phong trào lan nhanh ra Quảng Ngãi, Phú Yên. Đến cuối năm 1887, nhiều căn cứ nghĩa quân đã được xây dựng, trong đó có căn cứ của Mai Xuân Thưởng ở Lộc Động, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây Sơn). Cùng phối hợp với ông ứng nghĩa có Đào Doãn Địch, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận... và ông được cử làm Tán tương quân vụ. Đến khi Đào Doãn Địch ốm chết, ông được tôn làm Nguyên soái.

Tháng 9 năm 1885, Mai Xuân Thưởng làm lễ tế cờ tại Lộc Đổng, rồi xuất quân đánh Pháp. Theo giúp sức có các danh sĩ như: Tăng Bạt Hổ ở Hoài Ân, Nguyễn Trọng Trì ở An Nhơn, Nguyễn Hóa ở Bình Khê, Nguyễn Can ở Tuy Phước...cùng hàng ngàn sĩ phu và nhân dân các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận. Nhiều trận đánh tại Cẩm Vân, Thủ Thiện, Hòn Kho (Tiên Thuận)...đã gây cho đối phương nhiều thiệt hại.

Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherreu phối hợp với quân do Trần Bá Lộc mang từ Nam Kỳ ra, mở cuộc tấn công lớn nhằm tiêu diệt nghĩa quân. Tháng 3 năm 1887. sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (An Nhơn), ông bị thương nặng, phải cho rút tàn quân vào Linh Ðỗng (núi Phú Phong) ẩn náu, tính kế kháng chiến lâu dài.
Theo vài tài liệu trước đây, thì vào tháng 4 năm Đinh Hợi (1887), Trần Bá Lộc kéo quân đến tàn sát dân chúng ở quê ông và còn bắt rồi tra tấn mẹ ông. Đau lòng, ông ra nạp mình để cứu mẹ và dân lành. Đối phương bắt giam ông rồi cho xử trảm ông cùng 11 đồng chí vào 6 tháng 6 tháng năm 1887.

Nhưng theo bài viết gần đây của TS. Đinh Bá Hòa, đăng trên báo Bình Định, thì Mai Xuân Thưởng bị bắt chứ không phải ra hàng. Ông viết:
"Gần đây, nhiều tư liệu liên quan đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân hai tỉnh Bình Định và Phú Yên được công bố; trong đó, có cả những tư liệu được khai thác từ kho lưu trữ của Pháp...Theo báo cáo gửi Thống đốc Nam Kỳ ngày 10 tháng 5 năm 1887, đã cho chúng ta biết khá tường tận về trường hợp bị bắt của Mai Xuân Thưởng như sau: "Lúc ấy, Mai Xuân Thưởng có năm mươi người đi theo ông, trong đó có toàn bộ gia đình của ông: mẹ, vợ và những người phụ tá, kể cả em của ông. Ngày 4 tháng 4, cả nhóm bị vây hãm trong một làng Chàm (có thể là Vân Canh), nhưng sau đó chạy thoát. Ngày 21 tháng 4 gia đình Mai Xuân Thưởng bị bắt, nhưng ngay đêm hôm sau ông Thưởng lại giải thoát được. Nhưng, đêm 31 tháng 4 rạng ngày 1 tháng 5, một trong những thủ hạ của Mai Xuân Thưởng bị bắt làm tù binh, đã chịu hàng và chỉ chỗ ở những người đang chạy trốn. Trần Bá Lộc và Bùi Giảng[1] đã bắt được Mai Xuân Thưởng ngày 4 tháng 5 khi ông đang trốn trong một cái hang núi Hòn Nhên ở làng Thang Ót, ở gần chỗ giáp giới Phú Yên và ngọn nguồn sông Côn. Ngày hôm sau, gia đình ông bị bắt. Sau ông, những thủ lãnh cuối cùng hầu như cũng bị bắt hết: Nguyễn Ngọc Loan bị bắt 14 tháng 5; Lê Khanh 20 tháng 5…" [2].

Sách Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 4 cũng cho rằng, vào ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc đã cho quân bao vây căn cứ Hầm Hô, Linh Đổng và cuối cùng, đã chiếm được căn cứ, bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Xuân Thưởng. Tuy nhiên, đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, trong đó, có bà mẹ Mai Xuân Thưởng. Sau khi giải vây, Mai Xuân Thưởng cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phủ Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thì bị phục binh Trần Bá Lộc đón bắt hết. Sau đó, đối phương cho đem tất cả nhóm về Phú Phong, tổ chức ăn mừng chiến thắng và phao tin Mai Xuân Thưởng ra hàng để hạ uy tín của ông...[3]

Khi Trần Bá Lộc đến dụ hàng, Mai Xuân Thưởng khẳng khái nói: "Chỉ có đoạn đầu tướng quân, chứ không có hàng đầu tướng quân" [4]. Biết không thể khuất phục được, đối phương đã đưa ông cùng các thuộc hạ ra xử trảm tại Gò Chàm (phía đông thành Bình Định cũ). Thi hài ông sau đó được đưa về táng tại Cây Muồng (nơi cha ông đã yên nghỉ), thuộc thôn Phú Lạc.

Và theo báo cáo do Tirant thiết lập ngày 11 tháng 6 năm 1887 gửi Thống đốc Nam Kỳ (tư liệu số Aix11.929), viết: "Có ba đợt hành quyết: ngày 1 tháng 6 có 5 người, trong đó có Lê Khanh; ngày 7 tháng 6 có 12 người, trong đó có Mai Xuân Thưởng và Bùi Điền; ngày 12 tháng 6 có 9 người và ngày 13 tháng 6 có 1 người. Tổng cộng có 27 người bị hành quyết, trong đó có một vài người là thủ lĩnh lớn nhất của phong trào Bình Định - Phú Yên"; thì Mai Xuân Thưởng bị xử chém vào đợt thứ hai, ngày 7 tháng 6 năm 1887 (Đinh Hợi), chứ không phải ngày 6 tháng 6 như tài liệu lâu nay đã ghi.

Năm 1961, nhà thơ Quách Tấn đã đứng ra vận động xây dựng lăng mộ nhà Mai Xuân Thưởng và các lãnh tụ Cần Vương khác của quê hương Bình Định. Ngày 22 tháng 1 năm 1961, nhân dân Tây Sơn đã làm lễ đưa hài cốt ông từ Phú Lạc về lăng mộ trên một quả đồi cao thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Hòa, ngay bên quốc lộ 19.
Trong khi chiến đấu, ông có làm một bài thơ thể hiện ý chí bất khuất của mình như sau:

Chết nào có sợ, chết như chơi,
Chết bởi vì dân, chết bởi thời.
Chết hiếu chi nài xương thịt nát,
Chết trung bao quản cổ đầu rơi.
Chết nhân tiếng để vang nghìn thủa,
Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời.
Thà chịu chết vinh hơn sống nhục
Chết nào có sợ, chết như chơi
.

Và trước lúc bị hành hình tại Gò Chàm (Bình Định), ông có để lại một bài thơ tuyệt bút:
Không tính làm chi việc mất còn,
Nợ trai lo trả ấy là khôn.
Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước,
Ðá tạc lòng trung quí mấy hòn.
Tái ngắt mặt gian xương tợ giá,
Ðỏ loè bia sách máu là son.
Rồi đây thoi ngọc đưa xuân tới,
Một nhánh mai già nảy rậm non...


Giai thoại
Năm 1885 tại trường thi Bình Định, sĩ tử vừa thi xong trường ba, thì nghe tin Kinh thành Huế thất thủ, nên phần đông đều bỏ về. Vào trường tư chỉ còn 8 người, mà Mai Xuân Thưởng là một. Khi ban áo mão, quan Chánh chủ khảo tặng tám ông Tân khoa một bài thơ luật, rằng:
Sơn Hà phong cảnh dị tiền niên
Hoành giám du khan thử địa huyền
Hận mãn xương môn trần ám ngoại
Lệ linh văn viện bút đình biên
Lịch truyền giáo dục ân như hải
Bát giải thinh danh thẩm thị tiên
Nhất dự y quan nan tự ủy,
Cương thường khán tử cổ anh hiền.
Tạm dịch:
Non sông rày đã khác xưa
Gương nêu tài tuấn còn nêu chốn nầy
Hận tràn, cung khuyết bụi bay
Tay cam dừng bút, lệ đầy viện văn
Bao triều tắm gội biển ân
Phẩm tiên tám giải thêm phần thanh cao
Cân đai trót đã dự vào
Cương thường noi dấu anh hào soi chung.


Truyền rằng trước khi khảo lại các quyển thi, quan chánh chủ khảo nằm mộng thấy một bà lão cầm tặng một nhánh mai trắng chỉ trổ một bông nhụy vàng cánh trắng, mùi hương nhẹ nhàng. Viên quan vừa đưa tay nâng thì hoa rụng vào nghiên son, và bà lão biến mất. Quan giật mình tỉnh dậy, bâng khuâng không hiểu điềm chi. Khi xét thấy trong tám ông cử nhân có một ông họ Mai, và xem lại quyển văn thì thấy văn chương có khí phách, thì đoán rằng điềm ứng vào Mai Xuân Thưởng, nên ban áo mão xong, quan mời riêng Xuân Thưởng vào dặn:
Lúc này nước nhà mất, một phần lớn do nơi đám sĩ phu. Cho nên làm việc gì cũng phải hết sức thận trọng.
Mai Xuân Thưởng lĩnh ý lui ra, trở về nhà khởi binh chống Pháp[4].

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.

Chú thích
1. Bùi Giảng, trước theo Cần Vương, sau về hàng và còn xin được làm con nuôi Trần Bá Lộc (Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên, quyển 5, tập trung, Sài Gòn, 1963, tr. 190)
2. Lược theo TS. Đinh Bá Hòa, Tư liệu mới về cái chết Mai Xuân Thưởng: [http://mangbinhdinh.com/forums/p/676/1509.aspx]
3. Lược theo sách Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 4 (Nhiều người soạn, Nxb Trẻ, 2007, tr. 287-288).
4. Theo Quách Tấn (Bước lãng du, Nxb Trẻ, 1996 tr. 358-359).